Trường Thành (Trung Quốc)


Khoảng năm 220 trước Công nguyên, sau khi thống nhất thiên hạ, Tần Thủy Hoàng đã cho liên kết các công sự phòng thủ được xây dựng trước đó thành một hệ thống phòng thủ hoàn chỉnh (Trường Thành), nhằm ngăn chặn các thế lực xâm lược từ phương Bắc xuống. Dưới thời Minh (1368 - 1644), chính quyền lại tiếp tục cho xây dựng và tu bổ công trình này, biến Trường Thành trở thành một kiến trúc quân sự dài nhất thế giới. Từ góc độ giá trị văn hóa, nghệ thuật, Trường Thành hội đủ những đặc tính quan trọng của lịch sử và chiến lược.

 

Giới thiệu chung

Trường Thành là một kiến trúc phòng thủ cổ đại, được xây dựng trong khoảng thời gian dài nhất, và là công trình đồ sộ nhất trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc cũng như trên thế giới. Thành được khởi dựng vào khoảng thế kỷ VII - VIII trước Công nguyên và được tu bổ, xây dựng bổ sung liên tục trong suốt hơn 2000 năm, phân bố trên một diện tích rộng, thuộc khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ của Trung Quốc, với tổng chiều dài trên 50.000 km, từng được mệnh danh là thành “có lịch sử trên 2000 năm, dài hơn 10 vạn dặm”. Vì kiến trúc này có quy mô hoành tráng nhất Trung Quốc cũng như trên thế giới nên cách đây hàng trăm năm, Trường Thành cùng với Đấu trường La Mã và Tháp nghiêng Pisa đã được công nhận là một trong 7 kỳ quan cổ đại lớn nhất thế giới.

Lịch sử tu bổ

Lịch sử tu bổ Trường Thành có thể tính từ thời Tây Chu, tức từ khoảng thế kỷ IX trước Công nguyên. Đương thời, nhà Chu đã cho xây dựng hàng loạt thành luỹ để phòng thủ, ngăn không cho các tộc du mục từ phương Bắc tràn xuống tấn công. Đến khoảng thế kỷ VII - VIII trước Công nguyên, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, chư hầu thay nhau xưng Bá, liên kết cùng nhau phòng phủ, đều cho xây dựng và củng cố Trường Thành tại biên giới nước mình. Trường Thành có quy mô sớm nhất thuộc về nước Sở, được xây dựng vào thế kỷ VII trước Công nguyên. Sau đó, các nước chư hầu lớn nhỏ, như Tề, Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên, Tần, Trung Sơn đều xây dựng, củng cố Trường Thành để phòng thủ. Trong thời kỳ này, Trường Thành có đặc điểm là, bốn mặt Đông, Tây, Nam, Bắc không đồng đều, với độ dài khác nhau, giao động từ vài trăm km đến khoảng 1000 - 2000 km. Để phân biệt với Trường Thành sau khi được Tần Thuỷ Hoàng định hình, các nhà sử học thường gọi Trường Thành trước thời Tần là “Trường Thành tiên Tần”.

Năm 221 trước Công nguyên, Tần Thuỷ Hoàng tiêu diệt 6 nước chư hầu, thống nhất thiên hạ, chấm dứt cục diện phân tranh thời Xuân Thu Chiến Quốc, lập ra Nhà nước tập quyền phong kiến đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Để củng cố nền độc lập của quốc gia vừa thống nhất và ổn định sản xuất, cũng như chống nguy cơ xâm lược của Hung Nô, một tộc người du mục ở phương Bắc, Tần Thuỷ Hoàng đã cho gia cố quy mô lớn Trường Thành. Ngoài việc tận dụng nền móng Trường Thành cũ của các nước Yên, Triệu và Trường Thành  phía Bắc của nước Tần, ông còn cho đắp thêm rất nhiều đoạn khác để tạo nên một tường thành dài hơn 1 vạn dặm, với phía Tây giáp với sông Thao, phía Đông giáp Liêu Đông. Tên gọi “Vạn Lý Trường Thành” được bắt nguồn từ đó. Sau Tần Thuỷ Hoàng, các triều đại thống trị khu vực Trung nguyên đều tiến hành tu bổ, xây dựng Trường Thành. Tổng cộng có hơn 10 triều đại, gồm Hán, Tấn, Bắc Nguỵ, Đông Nguỵ, Tây Nguỵ, Bắc Tề, Bắc Chu, Tuỳ, Đường, Tống, Liêu, Kim, Nguyên, Minh, Thanh tiến hành tu bổ và xây dựng Trường Thành với quy mô khác nhau. Trong đó, ba triều Hán, Kim, Minh tu bổ và xây dựng Trường Thành với quy mô cực lớn, đẩy chiều dài của Trường Thành tăng thêm 5.000 km hoặc 10.000 km. Mặc dù các triều đại có nguồn gốc phát tích khác nhau, nhưng từ góc độ lịch sử các tộc người thống trị từng xây dựng và tu bổ Trường Thành có thể thấy, ngoài tộc người Hán, còn có rất nhiều triều đại thống trị Trung Quốc là tộc người thiểu số đã xây dựng và tu bổ Trường Thành. Tuy nhiên, trong thời gian thống trị, triều Hán đã tiến hành xây dựng và tu bổ với quy mô lớn nhất. Đến thời Khang Hi - triều Thanh, tuy không chú ý đến việc mở rộng quy mô, nhưng sau đó một số địa phương vẫn tiến hành xây dựng và tu bổ Trường Thành. Như vậy có thể thấy, từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đến thời Thanh, tức là trong vòng hơn 2.000 năm, Trường Thành luôn được xây dựng và tu bổ.

Hệ thống phòng thủ

Vạn Lý Trường Thành không chỉ đơn giản là bức tường thành chạy dài, mà còn được bố trí một hệ thống phòng thủ liên hoàn, gồm tường thành, tháp canh, công sự, thành đóng quân, đồn bảo vệ và đài phong hỏa (đài đốt lửa/khói để thông báo tình hình quân địch). Hệ thống phòng thủ này do các đơn vị quân đội chiếm đóng, theo sự phân cấp, được tổ chức rất chặt chẽ. Ví dụ như Trường Thành thời Minh, có tới 9 đơn vị quân đội được bố trí dàn trải khắp Trường Thành, gồm Liêu Đông, Kế, Tuyên Phủ, Đại Đồng, Sơn Tây, Du Lâm, Ninh Hạ, Cố Nguyên, Cam Túc. Các đơn vị này phụ trách việc trấn giữ và tu bổ Trường Thành trên địa hạt của mình: phía Đông được tính từ địa phận sông Áp Lục; phía Tây đến cửa ải Gia Dục, với tổng chiều dài trên 7.000 km và được mệnh danh là “cửu biên trọng trấn” (chín trấn trọng yếu nơi biên ải). Mỗi trấn được bố trí một viên quan Tổng binh, phụ trách việc phòng thủ quân sự của toàn trấn dưới sự chỉ huy của Bộ binh. Ước tính, dưới thời này có khoảng 100 vạn quân được bố trí phòng thủ trên toàn tuyến Trường Thành. Trong thời bình, quan Tổng binh trấn trị và đóng quân trong trấn thành/trị sở, các quan viên cấp dưới đóng quân tại các đồn bảo vệ, doanh trại, cửa thành hoặc chòi canh, công sự trên mặt thành…

Kiến trúc phòng thủ

Kiến trúc phòng thủ của Trường Thành có lịch sử hình thành và phát triển trên 2.000 năm. Trước tiên, về mặt bố cục, khi Tần Thuỷ Hoàng tu bổ Vạn Lý Trường Thành đã tuân thủ nguyên tắc: “nương theo địa thế, lợi dụng địa hình hiểm trở để đóng các chốt phòng thủ”. Nguyên tắc quan trọng này luôn được các triều đại kế tiếp tuân thủ và khai thác triệt để, nhằm thiết lập, củng cố hệ thống phòng thủ quân sự. Về vật liệu và kết cấu kiến trúc, nguyên tắc được ưu tiên là: “sử dụng vật liệu tại chỗ một cách hợp lý”, kết hợp với tính ưu việt của nhiều phương pháp xây dựng, như trình tường đất, kè đá dăm lẫn đá phiến, xây bằng vật liệu hỗn hợp, đối với địa hình sa mạc, còn sử dụng cành cây, lau sậy… và cát sa mạc để đắp thành nhiều lớp. Có thể nói, những sáng tạo trong xây dựng Trường Thành đã đạt tới mức tuyệt kỹ, ví dụ: tại những cửa ải, như Ngọc Môn, Dương Quan (đều thuộc Cam Túc) và khu vực Tân Cương, hiện còn bảo tồn được khá nhiều dấu tích điển hình về kỹ thuật xây dựng Trường Thành từ thời Tây Hán, có niên đại cách ngày nay khoảng trên 2.000 năm.

Tường thành đóng vai trò là bộ phận quan trọng nhất trong kiến trúc phòng thủ của Trường Thành. Hệ thống tường thường được xây dựng chủ yếu trên đỉnh núi cao hoặc tại những vị trí hiểm trở của vùng đồng bằng. Việc xây dựng mỗi đoạn cụ thể lại dựa theo địa hình và nhu cầu, công năng phòng thủ của kiến trúc. Đối với địa hình đồng bằng hoặc khu vực biên ải trọng yếu, kiến trúc phòng thủ thường được xây dựng quy mô và kiên cố. Đối với địa hình núi non hiểm trở, kiến trúc phòng thủ thường có quy mô nhỏ, để tiện cho việc nguỵ trang, đồng thời tiết kiệm sức người và sức của. Đặc biệt, đối với những vách núi cao, hiểm trở, không thể triển khai các phương pháp xây dựng, thì tận dụng vách núi có sẵn hoặc san, bạt vách núi làm tường thành. Tại một số khu vực, như cửa Cư Dung, đỉnh (núi) Bát Đạt và các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây, Cam Túc, tường của Trường Thành có độ cao trung bình khoảng 7 - 8m, chân tường rộng khoảng 6 - 7m, bề mặt tường rộng khoảng 4 - 5m. Trên bề mặt tường thành, phía trong có hệ thống tường bao, cao trên 1m, để bảo vệ cho binh sĩ không bị rơi xuống khi tuần tra hoặc tác chiến trên mặt thành; phía ngoài cũng là hệ thống tường, cao khoảng 2m, với phía trên trổ các ô cửa vuông để quan sát bên ngoài, phía dưới có các lỗ để bắn tên hoặc lăn đá xuống. Đối với những đoạn tường thành trọng yếu, thường có nhiều lớp tường, để ngăn quân địch tiến lên mặt thành. Đến khoảng giữa thời Minh, khi danh tướng Thích Kế Quang làm Tổng binh trấn Kế, hệ thống công sự phòng thủ của Trường Thành đã có bước cải tiến đáng kể. Trên bề mặt tường thành đã có các lầu và đài quan sát địch để binh sĩ tuần thú dưỡng nghỉ, đồng thời là nơi tàng trữ vũ khí, lương thực, đồ quân dụng… Theo đó, công năng phòng thủ của Trường Thành cũng được phát huy tối đa.

Quan thành là tuyến phòng thủ tập trung nhiều cứ điểm phòng thủ nhất của Trường Thành. Vị trí xây dựng Quan thành thường là nơi trọng yếu, thuận lợi cho việc phòng thủ, sao cho chỉ với một lực lượng nhỏ có thể chống lại đội quân có binh lực cực mạnh - Có thể dẫn câu nói của người xưa: “một lính trấn giữ vạn tướng khó qua” để nói về tầm quan trọng của Quan thành. Trên toàn tuyến Trường Thành có rất nhiều Quan thành, với quy mô khác nhau. Ví dụ, dưới thời Minh, toàn tuyến Trường Thành có hàng ngàn Quan thành, tiêu biểu là Sơn Hải quan, Hoàng Nhai quan, Cư Dung quan, Tử Kinh quan, Đảo Mã quan, Bình Hình quan, Nhạn Môn quan, Thiên quan, Gia Dục quan cùng những Quan thành được xây dựng từ thời Hán, là Dương quan và Ngọc Môn quan… Xung quanh một số Quan thành lớn còn có rất nhiều Quan thành nhỏ bao bọc (ví dụ: xung quanh Sơn Hải quan có trên 10 Quan thành nhỏ bao bọc), hợp thành hệ thống kiến trúc phòng thủ của Trường Thành. Đài phong hỏa là kiến trúc quan trọng nhất của Quan thành và cao nhất Trường Thành, được triển khai thành nhiều tuyến. Ví dụ tại Cư Dung quan, ngoài tuyến ngoài, còn có các tuyến ở cửa Nam, cửa Bắc và 3 tuyến trên thành. Cửa Bắc ở đỉnh (núi) Bát Đạt, là phòng tuyến tiền tiêu quan trọng nhất của Cư Dung quan.

Đài phong hoả là một bộ phận quan trọng nhất cấu thành hệ thống phòng thủ của Vạn Lý Trường Thành, gắn với công năng thông báo tình hình quân địch. Đây là hệ thống truyền tin được thiết lập ở Trường Thành khá sớm. Khi các triều đại tu bổ Trường Thành đều đặc biệt chú trọng đến việc cải tiến và hoàn thiện hệ thống này, biến nó trở thành một hệ thống truyền tin về quân địch hữu hiệu nhất thời cổ đại. Phương pháp truyền tin của đài phong hoả là đốt lửa vào ban đêm, vì ban ngày ánh sáng mặt trời rất mạnh, khó nhìn thấy ánh sáng của lửa, nhưng vào bên đêm, có thể nhìn thấy ánh sáng của lửa từ rất xa. Đây là phương pháp truyền tin rất nhanh và khoa học. Để thông báo tình hình quân địch xâm phạm, với binh lực mạnh hay yếu thì dùng lửa đốt trên các đài với số lượng nhiều hay ít. Đến triều Minh, ngoài việc đốt lửa trên đài phong hoả còn đốt thêm pháo để tăng cường hiệu quả cảnh báo và đưa tin đi ngàn dặm trong khoảng khắc. Dưới thời cổ đại chưa có điện thoại và thông tin vô tuyến điện thì đài phong hoả được coi là phương tiện truyền tin về quân địch nhanh và hữu hiệu nhất. Cách bố trí đài phong hoả mang tính quyết định đến hiệu quả truyền tin. Thông thường, những đài này được xây dựng trên núi cao, hiểm trở, hoặc những nơi có mỏm núi cao nhô ra đường, với từng cụm ba đài được bố trí liên thông để tiện cho việc quan sát và truyền tin. Dưới thời Hán, đài phong hoả được gọi là “quá đình”, “đình toại” hoặc “phong toại”. Dưới thời Minh, đài phong hoả được gọi là “yên đôn”. Ngoài chức năng báo tin về quân địch, đài phong hoả còn là nơi tạm trú, đảm bảo an toàn, cung cấp lượng thực cho sứ giả cùng thức ăn cho ngựa… Tại một số đoạn của Trường  Thành chỉ có đài phong hoả, đình toại mà không có hệ thống tường, qua đó có thể thấy được tầm quan trọng đặc biệt của đài phong hoả trong hệ thống phòng thủ của Trường Thành./.

Nguồn: http://www.gov.cn


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website