Cung điện Nara - Nhật Bản


Năm 1998, tại kỳ họp thứ 22 của Uỷ ban Di sản Thế giới ở Kyoto, Di tích Lịch sử Nara cổ (Historic Monuments of Ancient Nara - sau đây gọi là Nara) đã được ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới.

Phạm vi của di sản được xác định:

- Vùng di tích lịch sử (Historic Site) rộng 616,9ha

 - Vùng đệm (Buffer Zone) rộng 1962,5ha

 - Vùng hài hoà với môi trường lịch sử (Historic Environment Hamonization Area) rộng 539 ha.

Di tích lịch sử Nara bao gồm:

- Những tài sản là những công trình kiến trúc được chỉ định là Bảo vật Quốc gia, và những công trình này nằm trong một vùng được chỉ định là di tích lịch sử (Historic Sites): Chùa Todai-ji, chùa Kofuku-ji, đền Kasuga-Taisha, chùa Gango-ji, chùa Yakushi-ji, và chùa Toshodai-ji.

- Những tài sản được chỉ định như là những di tích lịch sử đặc biệt (Special Historic Sites) và địa điểm thiên nhiên đặc biệt (Special Natural Monuments): Di tích Cung điện Nara và Rừng nguyên sinh Kasugayama.

1. Đôi nét về lịch sử  Nara:

Vào cuối thế kỷ 6 và thế kỷ 7, các cơ quan đầu não của chính quyền hoàng gia được đặt ở vùng Asuka - Đông Nam của Nara, năm 710, thủ đô chuyển về Nara - chỉ 17 năm sau khi Fujiwara trở thành thủ đô. Nara nằm về phía Bắc của một vùng có tên Vùng trũng Nara (Nara Basin). Trong thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Gemmei (707 - 715) là một trung tâm đô thị với dân số xấp xỉ 100.000 người, Nara đồng thời là trung tâm văn hoá, kinh tế và chính trị của Nhật Bản cho đến năm 784, khi Hoàng đế Kammu (781 - 806) chuyển thủ đô tới Nagaoka, nay nằm ở phía Tây Nam Kyoto. Thời kỳ từ năm 710 đến 784 được gọi là thời kỳ Nara. Vào năm 740, vua Shoomu (724 - 749) chuyển thủ đô tới Kuni (phía Nam Kyoto) và sau đó là Shigaraki (phía Đông Nam Shiga) và Naniwa (trung tâm Osaka). Cuối cùng Hoàng đế Shoomu quay trở về Nara vào năm 745. Thời kỳ Nara do đó, được chia thành 2 giai đoạn trước và sau năm 745. Chính trong thời kỳ Nara, chế độ cai trị và hệ thống luật pháp theo kiểu Trung Hoa đã hoàn toàn được chấp nhận ở Nhật Bản. Thủ đô Nara được quy hoạch để có thể làm nơi hoạt động của các cơ quan chính của chính quyền trung ương. Kinh tế và văn hoá ở Nara phát triển, một khối lượng lớn hàng hoá đổ về đây từ mọi miền trên đất nước Nhật Bản.

2. Thủ đô Nara:

Chính quyền Hoàng gia ra lệnh xây dựng Thủ đô Nara vào tháng 2 năm 708 (theo âm lịch). Để chuẩn bị nền móng cho diện tích cung điện rộng 1,2km2 , mặt đất được san bằng, các chỗ trũng được lấp đầy và nhiều quả đồi bị san ủi.

Vào thời điểm cực thịnh, Thủ đô Nara đo từ Bắc xuống Nam dài 4,8km, từ Đông sang Tây dài 4,3km và có phần phình ra ở phía Đông có kích thước 2,1km x 1,6km. Ở phần Tây Bắc cũng có chỗ nhô ra. Tổng diện tích của Thủ đô là 25km2. Cổng chính của Thủ đô là cổng Rajoo (cổng trung tâm của phía nam), từ cổng này Đại lộ Suzaku (Chu Tước) rộng 74m chạy về phía Bắc tới Cổng Suzaku của Cung điện Nara. Phần thành phố nằm về bên Đông của Đại lộ Suzaku được gọi là Thủ đô bên trái và phần bên Tây được gọi là Thủ đô bên phải. Các phố và đại lộ chính được bố trí chạy dọc và bắt chéo nhau ở khoảng cách 531m. Các phố chính chạy từ Đông sang Tây là "Phố Hàng" (Row Streets) và các đại lộ chính chạy theo hướng Bắc Nam gọi là "Đại lộ Cột" (Column Avenues). Một hình vuông được bao quanh bởi 2 Phố Hàng và 2 Đại lộ là một phường (boo), trong đó lại được chia thành 16 khối (Tsubo hoặc choo) bởi 3 tiểu lộ Bắc - Nam và 3 phố nhỏ Đông - Tây. Mỗi Hàng, Cột, Phường và Khối (mỗi khối có diện tích khoảng 1,76 ha) được đánh số và địa chỉ là sự kết hợp của quy định phân chia này. Thủ đô có các chùa thờ Phật, đều được xây bởi các nhà quý tộc; 2 chợ chính; khu nhà ở của các quan chức và dân thường. Dân số của Nara khi đó vào khoảng 100.000 người (theo thuyết của Kishi Toshio) đến 200.000 người (thuyết của Sawada Goichi). Người ta tính có 150 quí tộc cấp cao và 7000 các quan chức và nhân viên sống và làm việc ở Thủ đô Nara

3. Cung điện Nara:

Cung điện Nara nằm ở phần trung bắc của Thủ đô Nara. Về cơ bản tổ hợp cung điện có diện tích từ 100 đến 120 ha, với phần phình ra ở phía Đông khoảng 300m. Toàn bộ Cung điện được bao quanh bằng tường đất cao tới 5 mét. Các toà nhà của chính quyền được bộ trí sát nhau. Các toà nhà này gồm có: các Sảnh Yết kiến Hoàng đế (Daigoku-den) và tổ hợp các Phòng họp Nhà nước (Choodoo-in), nơi các sự kiện chính trị quan trọng diễn ra; khu Nhà ở Hoàng gia (Dairi) nơi Hoàng đế và Hoàng hậu sinh sống. Trong tổ hợp còn có các khu vườn, nơi tổ chức yến tiệc như Cung điện phía Đông (Too-in), Vườn Nam (Nan-En), Cung điện Hồ Tây (Nishi-ike no Miya) và Vườn của rừng thông (Shoorin). Cung điện Nara có 12 cổng, cổng Suzaku (Chu Tước Môn) ở phía Nam là cổng chính. Những công trình quan trọng của Cung điện Nara gồm có:

- Cổng Suzaku (Chu Tước Môn).

- Sảnh Yết kiến Hoàng đế ở trung tâm: Sảnh Yết kiến Hoàng đế là tên gọi của toà nhà Đệ nhất thứ Đại Cực Điện, nơi Hoàng đế xuất hiện trong những nghi lễ quan trọng như lễ đăng quang, đón chào Năm Mới và tiếp đón khách nước ngoài.

Sảnh Yết kiến Hoàng đế phía Đông (Đệ nhị thứ Đại Cực Điện) nhỏ hơn một chút so với Sảnh Yết kiến Hoàng đế ở trung tâm.

- Tổ hợp Phòng khánh tiết: Khi Hoàng đế xuất hiện ở Sảnh Yết kiến Hoàng đế, các vị quan văn võ xếp hàng trong tổ hợp Phòng khánh tiết (State Halls compound). Các lễ nghi và yến tiệc được tổ chức trong những tổ hợp này trong những dịp đặc biệt, chẳng hạn như Năm Mới và tiếp kiến quan khách ngoại giao.

- Khu Nhà ở Hoàng đế.

- Tổ hợp Phòng họp nhà nước.

- Sảnh Lễ tạ ơn lớn: Ở Nhật Bản, Hoàng đế tiến hành lễ tạ ơn (niiname sai) hàng năm vào tháng 11 để cảm ơn các vị thần mùa màng bằng cách dâng tặng các sản phẩm của vụ mùa mới. Lễ tạ ơn đầu tiên mà một vị Hoàng đế mới tiến hành sau lễ đăng quang được phân biệt bằng Lễ tạ ơn lớn (daigoo sai) và một tổ hợp cung điện được xây dựng đặc biệt cho lễ này. Lịch sử cho biết bảy vị Hoàng đế đã đăng quang trong thời kỳ Nara.

- Vườn  Cung điện phía Đông.

- Cung điện Hồ Tây.

- Vườn Shoorin: Ở phía Bắc của cung điện Nara là vườn Shoorin nơi Nhật Hoàng Shoomu mời các vị quý tộc đến dự tiệc và cùng xem các cuộc thi đấu thể thao như bắn cung trên lưng ngựa.

- Trụ sở bộ máy chính quyền Trung ương: Nhiều văn phòng của bộ máy chính quyền trung ương nằm trong Cung điện Nara, bộ máy này bao gồm 2 hội đồng lớn và 8 bộ. Hai hội đồng là Đại Hội đồng tôn giáo (Jingkian) và Đại Hội đồng hành chính (Dajookan). Đại Hội đồng tôn giáo chịu trách nhiệm về tất cả các lễ nghi trong Cung điện Nara và quản lý tất cả các đền thờ Shinto (Thần đạo) linh thiêng ở Nhật Bản. Đại Hội đồng hành chính chịu trách nhiệm về 8 bộ: như Bộ Nhân lực và Bộ Ngân khố Hoàng gia. Mỗi Bộ bao gồm nhiều văn phòng khác nhau, các cục, phòng và ban, theo lịch sử tương ứng là các shiki, ryo và shi. Những cơ quan này nằm xung quanh Sảnh Yết kiến, Phòng khánh tiết và Khu nhà ở Hoàng đế. Khoảng 7000 nhân viên làm việc trong những cơ quan này.

4. Quá trình nghiên cứu bảo tồn Cung điện Nara:

Một số mốc chính của hành trình nghiên cứu về cố đô Nara được ghi nhận là:

Năm 1852, bản đồ phần di tích còn sót lại của cung điện Heijoo được hoàn thành bởi Kitaura Sadamasa. Tiếp theo là những đóng góp to lớn của Sekino Tadashi, Kita Sadakichi và một số học giả khác cuối thời Meiji, phác thảo thủ đô thời Nara dần dần trở nên rõ nét.

Năm 1922, phần di tích sót lại gồm: Phòng Khánh tiết và Sảnh Yết kiến Hoàng đế được chỉ định là Di tích Lịch sử Quốc gia.

Năm 1952, toàn bộ Cung điện Heijoo được chỉ định là Di tích Lịch sử Quốc gia.

Năm 1959, việc khai quật di chỉ Cung điện Nara được bắt đầu.

Năm 1961, dự kiến sử dụng một phần đất bên trong Cung điện làm nơi thử toa xe lửa đã bị ngừng sau khi lấy ý kiến dân chúng.

Năm 1964, phát hiện phần mở rộng phía Đông của cung điện Heijoo. Kế hoạch xây dựng đường vành đai số 24 thay đổi, được sửa cho đi vòng sang phía đông để tránh vướng vào phần đất của Cung điện.

Năm 1977, chuẩn bị "Quy hoạch cơ bản bảo tàng di tích Heijoo".

Năm 1998, hoàn thành việc phục hồi Cửa Chu Tước và Nara được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.

Năm 2003, bắt đầu phục hồi Sảnh Yết kiến Hoàng đế (Đệ nhất thứ Đại Cực Điện). Công việc phục hồi dự kiến kéo dài trong tám năm và sẽ hoàn tất vào năm 2010.

 

Thế Hùng


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website