Người Hà Nội - Vài nét lịch sử trang phục


Có một vấn đề xã hội luôn được các thế hệ kế tiếp nhau quan tâm: trang phục. Điều đó càng được bộc lộ rõ ở những người mang nếp sống thị thành, mà tiêu biểu là các chàng trai, cô gái Hà Nội xưa nay. Lề lối sinh hoạt xã hội, sắc thái văn minh của đất nước dường như bao giờ cũng kết tinh và phát triển từ đây.

Bạn trẻ dễ lầm tưởng mảnh đất núi Nùng, sông Nhị vốn chỉ có độ tuổi nghìn năm! Nhà sử học và nhà khảo cổ học, sau kỳ công tìm kiếm mách bảo: Khi Hùng Vương dựng nước Văn Lang, Hà Nội đã là một vùng tụ cư. Người Hà Nội khi đó mang vẻ đẹp chung của cả cộng đồng Lạc Việt. Chưa nói đến những dấu vết xăm mình, những kiểu tóc. Chỉ riêng quần áo ông bà ta cũng đã lựa chọn, sáng tạo từ điều kiện sống và hoàn cảnh sinh hoạt cho phù hợp với sự làm ăn ở miền nhiệt đới, vừa tiện, vừa đẹp theo quan niệm xã hội đương thời.
Nam giới lúc này mang nặng trọng trách gia đình, phải lên rừng, xuống biển vất vả nên phục trang thường đơn giản. Vậy là các chàng trai đã đến với “mốt” thời trang: Khố. Tuy vậy, vẫn có thể “diện” nhiều loại: người cẩn thận thì dùng khố dây, kéo chằng nịt xuống, đuôi khố thả vừa chấm mông; người thích cầu kỳ, vấn vạt khố hai vòng quanh bụng. Và sang hơn, đem thả đuôi dài lủng lẳng phía sau …
Trong khi đó, lối ăn mặc của các bà, các chị ta ngay từ buổi đầu ấy đã … rườm rà, phức tạp. Trên đầu trùm chiếc khăn vắt thành chóp nhọn. Áo cánh xẻ ngực mặc ngoài che cho chiếc yếm bên trong. Quanh bụng quấn dây thắt lưng có hình trang trí. Các cô gái thường mặc váy chui, có người gọi là váy kín. Để cho thướt tha, váy thường được buông chùng gót. Chiếc váy gần như hình chữ nhật, cũng được trang trí, thả buông trước bụng, sau lưng. Chưa hết! Còn loại váy mở, quấn chặt ngang thắt lưng, ngắn đến gối. Rồi đến những ngày hội, ngày lễ trong năm, ngoài thường phục, các cô gái Hà Nội cổ xưa còn cho ra mắt những chiếc váy xoè, làm bằng lông vũ hoặc lấy lá cây đan dệt nên. Chỉ bấy nhiêu thôi mà có lẽ phải qua nghìn năm người Hà Nội xưa mới định hình được mấy đường nét ăn mặc, bền vững, trường kỳ theo quan niệm sống và tư duy thẩm mỹ dân tộc, đủ sức chống ách đồng hóa của kẻ thù phương Bắc.
Sau giấc mơ huyền thoại “Rồng bay” rất đẹp, mảnh đất nơi đây đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá. Một đô thị phong kiến với lầu son gác tía và cảnh sắc bừng lên. Cung cách ăn mặc cũng vì thế được đổi thay và bắt đầu nhiễm tính lớp lang theo sự phân hoá các thành phần xã hội. Vào thời Lý, các dấu vết rất rõ. Trước hết là Vua: một chiếc áo vàng (hoàng bào), một chiếc quần tía. Dân tình phần lớn vẫn ăn mặc như xưa. Chỉ có quan lại và sĩ phu mặc quần áo thâm, cổ áo vòng cao lên cài khít lấy cổ, thân áo chia làm bốn mảnh (áo tứ thân). Quân sĩ đóng khố, cởi trần. Các cô gái đa số vẫn xống áo thuở xưa, ít trang trí để bớt phần làm đỏm.
Sang đời Trần, nếp ăn mặc có quy định chặt hơn, từ trên xuống dưới, mang dáng nho sĩ. Đàn ông trùm đầu bằng khăn lụa, buộc túm phía sau, đỉnh khăn cài thêm móc sắt. Nam giới đều mặc áo tứ thân, quần đen như thời Lý. Phụ nữ mặc thêm áo lót trắng, hoặc nâu… Mầu sắc quần áo chủ yếu dùng trắng, đen, nâu. Còn xanh, đỏ, tía, vàng được dành cho các nhà quyền quý.
Đến thời Lê – Nguyễn, áo quần trở nên khởi sắc. Các loại vải dệt ngày một nhiều, có thêm vải tốt và đẹp, được trai gái ưa dùng như the, lụa, gấm vóc… Những cửa ô tấp nập người mua kẻ bán mặt hàng “tự cung tự tiêu” này. Có loại rất được phụ nữ chuộng dùng may váy hoặc quần lĩnh. Cũng nói thêm, từ váy sang quần, các cô gái đã một thời bị ông bà đay nghiến, dèm pha! Nam giới thì mặc quần vải. Kẻ phong lưu may bằng lụa trắng. Người cầu kỳ dùng the hoặc thêm sa, xuyến, mỏng manh mặc phủ bên ngoài. Nam giới thường dùng quần trắng khi rong chơi và mặc quần nâu lúc lao động. Đến đầu thế kỷ XX, nhiều chàng bắt đầu diện áo cổ “cồn”, có thêm cổ phụ bên trong ló ra gặp khi trời nóng. Và thêm cảnh “Giày giôn anh dận, ô Tây anh cầm”.
Riêng các cô gái, quần áo mỗi ngày một phức tạp theo cái nhìn mỗi ngày một “phức tạp” của xã hội, nhất là của phái mạnh. Có một kiểu áo ta còn gặp trên bức tranh dân gian Hàng Trống tuyệt đẹp: “cô Tố Nữ” đầu thế kỷ XX. Và cũng đến buổi này, người Hà Nội đã dần dần dùng quần chứ không dùng váy. Chiếc “quần không đáy” trở về với luỹ tre xanh ngoài năm cửa ô.
Chiếc áo dài tứ thân luôn được cải biến ở kích áo, vạt áo để thành tấm áo cô Tố Nữ; rồi chuyển dần sang chiếc áo tân thời hiện nay. Nó làm cho đường nét “thắt đáy lưng ong” ở các cô được tôn lên óng ả.
Và rồi, văn minh Âu Tây cứ ùa vào, để dấu ấn trên sắc phục buổi giao thời: áo lót mỏng, khăn san, quần trắng mỏng. Thẩm mỹ con người không ngừng biến động. Áo nâu, quần đen và sắc phục màu xanh lăn lộn trên chiến trường và lao động. Vắng bóng ngoại xâm, người Hà Nội rộ lên sắc màu và kiểu cách ăn mặc. Chiếc áo sơ mi giờ đây liên tục được cải tiến hình hài cùng những “mốt” quần tuýp, quần loe …
Như thế đó, trên con đường cải biến phục trang, người Hà Nội luôn tìm cho mình một cung cách ăn mặc độc đáo, hài hoà, sinh động và đẹp mắt. Người Hà Nội chân chính bao giờ cũng có một quan niệm sinh hoạt bộc lộ một trình độ văn hoá cao. Nhạy cảm với cái mới, sáng tạo ra cái mới là đặc tính của tuổi trẻ ngày nay. Kết hợp những giá trị thẩm mỹ truyền thống – hiện đại trong ăn mặc là điều cần thiết và còn tuỳ thuộc vào tầm hiểu biết, trình độ nhận thức và trình độ thẩm mỹ của từng người.

PGS.TS. Bùi Quang Thanh


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website