Về một số làng gốm vùng châu thổ sông Hồng


Làng nghề thủ công truyền thống nói chung, làng nghề gốm nói riêng với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc đáo của nền văn hoá Việt Nam - Một dân tộc đã có bề dầy lịch sử hàng ngàn năm với nền văn hoá lấy cộng đồng làng làm đơn vị tổ chức xã hội cơ bản. </


Làng nghề gốm truyền thống chỉ chiếm một phần nhỏ trong số hàng chục ngàn làng nghề nói chung ở Việt Nam. Các làng nghề truyền thống đã tạo ra rất nhiều sản phẩm không chỉ có giá trị hàng hoá mà còn có mặt giá trị về văn hoá và lịch sử. Đội ngũ nghệ nhân, hệ thống bí quyết và quy trình nghề, các sản phẩm được lưu truyền cùng với toàn bộ cảnh quan, môi trường, các hệ thống giá trị và chuẩn mực, lối sống, phong tục tập quán, lễ hội của làng nghề thủ công truyền thống đã và đang là những đối tượng cần được bảo tồn và phát huy.

Trong các nghề thủ công truyền thống, nghề gốm xuất hiện khá sớm, các nhà khảo cổ học cho rằng gốm xuất hiện ở Việt Nam từ thời kỳ đồ đá mới (văn hóa Bắc Sơn, cách ngày nay hơn một vạn năm). Các trung tâm gốm của Việt Nam được phân bố ở dọc các con sông. Một số trung tâm gốm lớn ở Việt Nam như: trung tâm gốm châu thổ Sông Hồng, rải rác các sông Miền Trung và Tây Nguyên (sông Mã, sông Côn, sông Đồng Nai,…), Châu thổ sông Cửu Long.v.v. Trong đó, trung tâm gốm châu thổ Sông Hồng là một trung tâm gốm lớn có lịch sử phát triển lâu đời với sự phân bố rộng khắp, tập trung các làng gốm, với sự đang dạng của các loại sản phẩm.
 
Ngoài Bát Tràng, một làng gốm nổi tiếng trong cả nước, ở vùng này, còn nhiều làng gốm khác, trước đây cũng nổi tiếng không kém với những chủng loại sản phẩm độc đáo, khác biệt và cũng đã từng góp phần không nhỏ vào đời sống của cộng đồng dân cư trong vùng. Đồ gốm của các làng này đã được sử dụng ở các vùng lân cận và xuất khẩu. Đó là các làng gồm: Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu, Cậy, Đông Triều.
 
Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu một số làng gốm tiêu biểu:

1. Làng Thổ Hà, thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Nằm bên bờ Bắc sông Cầu, cách thị xã Bắc Ninh khoảng 3 km về phía thượng nguồn sông Cầu, làng gốm Thổ Hà trước đây là một trong những trung tâm gốm sầm uất của vùng Châu thổ Sông Hồng. Theo các cụ già kể lại khi ấy ngày ngày những con thuyền tấp nập cập bến và vận chuyển những sản phẩm gốm đi phân phối khắp các tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng và miền núi Đông Bắc. Sản phẩm gốm Thổ Hà gồm các mặt hàng gia dụng như: chum, vại, chậu, tiểu, phướng chơ lợn ăn, bình vôi, ấm tích..., hàng phục vụ cho đình, chùa như nồi hương, cây đèn, đầu đao, con giống..., vật liệu xây dựng như: gạch lát, gạch trổ hoa chanh, ngói mũi, ngói móc, ngói bò, ống nước và những mặt hàng do khách yêu cầu. Ngoài ra, người Thổ Hà còn làm gốm mỹ nghệ: đôn, chậu hoa, chậu cảnh, thống, ống điếu, ống tăm, các con giống.

Gốm Thổ Hà không thể lẫn với gốm nơi khác bởi lớp men tự nhiên. Để sản phẩm sản xuất ra loại gốm tốt, người thợ gốm Thổ Hà phải chọn tìm loại đất sét đồng chiêm trũng, ở vùng Đông Tiến (gần Đáp Cầu), Giá Son, Phù Yên... có màu xanh như nõn rong hoặc vàng ngà như múi mít. Loại đất này chứa nhiều sắt, khi ở độ nung cao kết lại thành khối (độ sành hoá). Đất được ngâm, thái, đạp nhiều lần cho mịn, đến lúc không còn chỗ rắn, cắt ra không còn vân mới thôi. Phương pháp tạo hình chủ yếu là chuốt trên bàn xoay. Thông thường mỗi bàn xoay có 3 người, một người chuyên ngồi chuốt, một người vần bàn xoay và một người chạy ngoài. Ngoài phương pháp chuốt, từ 1966, họ còn sử dụng phương pháp giáp khuôn. Sản phẩm sau khi qua sơ chế, được để cho se dầu, sờ tay vào không thấy dính nữa là được. Lúc ấy người thợ "chang, đấm, thúc" bên trong sản phẩm rồi để cho khô. Nếu có vết rạn nứt thì được vá lại bằng đất mịn. Bước cuối cùng là ve, nạo sản phẩm. Công việc này cần đến 2 người, một người vần bàn xoay, một người ve, nạo. Sản phẩm khi đã khô, rắn thì đưa vào lò nung. Khi nung người thợ điều khiển cho lửa liếm vào thành sản phẩm thật đều.

Nếu chỉ lơi lỏng một chút là cả lò gốm sẽ giảm giá trị. Nguyên liệu để đốt lò chủ yếu là củi và cỏ. Nhiệt độ trong lò lên tới 1.100 - 1.2000C.

Thợ Thổ Hà chuốt gốm. Ảnh: Phạm Cao Quý

Thợ Thổ Hà chuốt gốm. Ảnh: Phạm Cao Quý

Gốm Thổ Hà chủ yếu là đồ gia dụng, nhưng đã vượt ra khỏi thị hiếu tiêu dùng để vươn lên cái đẹp hoàn mỹ, tự nhiên. Ta thấy được cái đẹp trong các mặt hàng thường dùng, rất nhuần nhuyễn, rất dân gian. Tác phẩm được tạo ra từ năng khiếu thẩm mỹ của những người thợ thủ công nên nó sống động và có hồn.

Trong quá trình nung, các hoạt chất trong xương gốm chảy ra thành một loại men bóng có mầu nâu bao quanh sản phẩm. Mầu men, độ mịn đều của lớp men này phụ thuộc hoàn toàn vào phương pháp điều khiển ngọn lửa trong quá trình nung. Gốm Thổ Hà được nung ở độ nung cao cho thấy trình độ kiểm soát ngọn lửa để tạo ra các sản phẩm gốm đẹp, cũng như kinh nghiệm dạn dầy của những thợ gốm nơi đây. Vì có độ nung cao cho nên các sản phẩm gốm Thổ Hà thường có độ bền cao, gõ vào có tiếng kêu đanh chắc. Vì đốt lò theo phương pháp thủ công nên bên cạnh các sản phẩm đẹp số sản phẩm không đảm bảo chất lượng phải bỏ đi như là bị rộp, phồng, bén lửa, méo, nứt, rạn chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Loại lò được dùng ở Thổ Hà thường là loại lò cóc.

Lò cóc là loại lò thường có thể tích khoang bé và chỉ có một khoang điều này cũng phù hợp cho việc đẩy nhiệt độ trong lò lên cao và dễ kiểm soát hơn các loại lò lớn hơn như lò rồng (thường được dùng ở gốm Đông Triều, Cậy, Chu Đậu), lò ống (Phù Lãng), hay lò đứng (Bát Tràng). Lò cóc có 2 cửa. Một cửa ở cạnh và một cửa ở cuối lò. Lò cóc thường bố trí 2 ống khói. Người Thổ Hà trước đây dùng củi để đốt lò. Củi được mua, đổi gốm từ các tỉnh Đông Bắc. 

Vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX, do sự biến động của nền kinh tế, sự chuyển hóa sở hữu và một số nguyên nhân khác, nghề gốm ở Thổ Hà đã dần dần mất đi và được thay thế bằng những nghề phụ khác như làm bánh tráng (bánh đa nem), buôn bán nhỏ,… Hiện tại chỉ còn một vài người trong làng còn sản xuất gốm với quy mô nhỏ, cầm chừng và cũng chỉ còn một lò cóc mới được dựng lại nhưng cũng ít được sử dụng. Những người thợ gốm nơi đây có nguyện vọng khôi phục lại nghề gốm sau hơn 10 năm bị thất truyền. Tuy nhiên, mong muốn của họ cũng đang gặp phải những khó khăn. Vì là một làng nghề thủ công, người dân sống chủ yếu nhờ nghề sản xuất gốm, những người dân làng gốm Thổ Hà hầu hết không có ruộng để canh tác. Do quá trình tăng dân số, diện tích đất làm lò, nơi sản xuất trước đây đều được cải tạo làm đất ở. Chính vì vậy, ngày nay, người dân Thổ Hà muốn xây dựng một khu sản xuất nhưng lại không có không gian, diện tích đất làm xưởng. Bên cạnh đó, thế hệ trẻ ở Thổ Hà ngày nay cũng ít người biết và muốn theo nghề gốm. Vì lẽ đó, nghề gốm ở Thổ Hà ngày nay đứng trước một nguy cơ bị mai một cao.

Mặc dù nghề gốm ở đây gần như bị mai một, nhưng về Thổ Hà hôm nay, người ta được thấy những con đường làng lát gạch cổ, những ngõ nhỏ dài, chật hẹp, những mảng tường thô không trát vữa được xây từ gạch, nguyên vật liệu bỏ đi của nghề gốm. Và đặc biệt, khách thăm còn sẽ được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc cộng đồng và tư nhân mang đậm yếu tố truyền thống. Đó là ngôi đình, chùa làng và những ngôi nhà cổ có niên đại hàng trăm năm. Những di sản văn hóa vô giá này là minh chứng của một làng gốm hưng thịnh trước đây.

2. Làng gốm Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Cũng nằm bên ven bờ sông Cầu (như Thổ Hà) nhưng xuôi về phía hạ lưu khoảng 20 km, làng gốm Phù Lãng một thời cũng nổi tiếng với những sản phẩm gốm dân gian thô, ráp, mầu sắc nâu trầm. Những sản phẩm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của những người nông dân vùng châu thổ Sông Hồng và các vùng núi Đông Bắc. Gốm Phù Lãng đã và đang là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều người. Gốm Phù Lãng có điểm giống và khác với gốm Thổ Hà. Sự khác biệt quan trọng của 2 dòng gốm này là: gốm Thổ Hà là lọai gốm không tráng men nhưng vẫn có men là do hoạt chất trong xương gốm chảy ra tạo thành men trong quá trình nung. Còn gốm Phù Lãng, lớp men được người thợ thủ công tạo ra ngay từ khi sản phẩm còn thô, chưa nung. Men được dùng của gốm Phù Lãng thường được lấy từ phù sa sông Cầu, bùn ruộng, ao hoặc từ đất, tro bếp,... Như vậy có thể thấy cùng tạo ra mầu sắc sản phẩm gần giống nhau (mầu nâu trầm, xám) nhưng cách thức chế tác của gốm Thổ Hà và gốm Phù Lãng lại khác nhau. Làng gốm Phù Lãng cũng gặp phải nhiều khó khăn và có nguy cơ bị mai một như làng gốm Thổ Hà. Nhiều thợ thủ công bỏ nghề sang làm nghề khác.

Sản xuất gốm ở Phù Lãng. Ảnh: Phạm Cao Quý

 Sản xuất gốm ở Phù Lãng. Ảnh: Phạm Cao Quý


Tuy vậy, nhờ có lòng yêu nghề, biết vượt qua những lúc khó khăn, một số cá nhân được đào tạo qua các trường mỹ thuật, kể từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, làng gốm Phù Lãng bắt đầu hồi sinh. Sản phẩm gốm Phù Lãng dần dần xuất hiện tại nhiều thị trường trong và ngoài nước. Một số dân Phù Lãng còn có cơ may mở công ty, xưởng sản xuất lớn của riêng mình nhằm thực hiện các đơn đặt hàng từ nước ngoài. Đời sống dân cư cũng từ đó được nâng cao. Những chiếc xe thồ chở chum, vại, tiểu sành đi giao, bán, đổi sắn, gạo ở trong vùng và các vùng lân cận ngày nào của người dân Phù Lãng đã không còn nữa. Thay vào đó là những xe ôtô lớn chở những container sản phẩm đem đi xuất khẩu.

3. Làng gốm Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Là một trong những trung tâm sản xuất gốm nổi tiếng vào thế kỷ XV - XVI. Cách đây khoảng 20 năm, gốm Chu Đậu còn ít người biết tới. Cho đến khi người ta khai quật được con tầu đắm ngoài khơi biển Cù lao chàm thì thương hiệu gốm Chu Đậu bắt đầu được quan tâm. Kết hợp với những kết quả khai quật nghiên cứu của lò gốm Chu Đậu tại Hải Dương, các nhà khảo cổ học đã làm sống lại gốm Chu Đậu. Qua nghiên cứu chất liệu, hoa văn,… cũng như
Xưởng gốm HAPPRO. Ảnh: Phạm Cao Quý

Xưởng gốm HAPPRO. Ảnh: Phạm Cao Quý

tài liệu lịch sử cho thấy các sản phẩm đẹp, tinh tế của làng gốm Chu Đậu thường được lái buôn nước ngoài vận chuyển sang một số nước lân cận. Chủng loại gốm Chu Đậu là loại gốm có men và vẽ các họa tiết mầu lam. Các sản phẩm gốm ở đây thường có xương gốm mầu trắng đục, thô, có loại hơi xám, độ nung cao. Các sản phẩm được tráng hoặc trang trí bằng nhiều loại men mầu khác nhau, phổ biến là men trắng, trong, hoa lam, men ngọc, xanh lục, xanh mầu rêu, vàng nhạt, vàng đậm. Một số sản phẩm còn được tráng tới hai mầu men. Các loại sản phẩm thường là bát, đĩa, các loại ấm, âu, chậu, chóe, lọ…
Nhiều nhà kinh doanh đã nắm bắt được thời cơ, khai thác uy tín truyền thống của gốm Chu Đậu, đã thành lập những xưởng sản xuất gốm Chu Đậu và con em của làng Chu Đậu vào làm việc ở xưởng gốm này.

Kỹ thuật đắp nổi của gốm Cậy. Ảnh: Phạm Cao Quý

Kỹ thuật đắp nổi của gốm Cậy. 
Ảnh: Phạm Cao Quý

4. Cũng là một trung tâm gốm phát triển vào khoảng thế kỷ XV - XVI (cùng thời với gốm Chu Đậu), gốm Cậy gồm có 2 làng là làng Hương Gián và Kệ Gián thuộc xã Long Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Các sản phẩm gốm có loại hình và đặc điểm giống với gốm Chu Đậu. Cũng như làng gốm Chu Đậu, hiện nay, gốm Cậy cũng bị thất truyền. Chỉ còn rải rác một số gia đình sản xuất. Người dân chuyển sang nghề sản xuất vật liệu xây dựng. Dấu tích về nghề gốm ở đây chỉ còn lại qua một số hiện vật khai quật trong làng và những bức tường gạch thô, cũ ngày xưa còn sót lại.

5. Bát Tràng hiện nay gồm hai làng Bát Tràng và Giang Cao gộp lại, là một trong 31 xã của huyện Gia Lâm, trước thuộc tỉnh Bắc Ninh; tới năm 1961 thuộc ngoại thành Hà Nội.

Là một làng quê có nghề gốm truyền thống, từ xa xưa đã có một huyền thoại truyền khẩu qua nhiều thế hệ rằng: vào thời Trần (thế kỷ XIII - XIV), có ba vị đỗ Thái học sinh được triều đình cử đi sứ Bắc Quốc là: Hứa Vĩnh Kiều (người làng Bát Tràng), Đào Trí Tiến (người làng Thổ Hà và Lưu Phương Tú (người làng Phù Lãng). Sau khi hoàn tất công việc ngoại giao, trên đường về nước, qua vùng Thiều Châu, gặp bão lớn, họ phải dừng lại nghỉ. Nơi đó có xưởng gốm Khai Phong, ba ông bèn học lấy nghề gốm rồi đem về nước truyền lại cho dân quê mình. Do vậy mà làng Bát Tràng chuyên chế các hàng gốm men có sắc trắng, làng gốm Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm men nâu chẩy từ trong xương gốm ra, còn làng Phù Lãng thì chế các hàng gốm có tráng men nâu. Câu chuyện này cũng cho thấy sự khác biệt, đa dạng về chủng loại, loại hình và những đặc điểm khác nhau của mỗi làng gốm. 

Đặc điểm của gốm Bát Tràng là ở chỗ người ta sử dụng đất sét trắng, cao lanh để làm ra sản phẩm có tráng men và được vẽ hoa văn từ đơn giản đến phức tạp. Người dân Bát Tràng thường sử dụng lò đứng, ngày nay có sử dụng lò ga để nung gốm. Nguyên liệu được sử dụng để đốt lò trước đây là than và củi. Ngày nay người dân Bát Tràng thường sử dụng than và gas. Việc sử dụng lò gas đã cho ra những sản phẩm chất lượng cao hơn và ít hỏng hơn so với việc dùng lò đốt bằng củi và than là vì người thợ đốt lò dễ dàng kiểm soát nhiệt độ trong lò. Cùng đó, nhiều sản phẩm tinh tế, đòi hỏi quá trình tăng nhiệt độ khi nung và kiểm soát nhiệt độ chính xác, đã ra đời. Nhiều chất men, mầu men mới được người thợ Bát Tràng khám phá ra và sử dụng một cách thuần thục. Việc sử dụng lò gas cũng cho phép những xưởng gốm ở Bát Tràng có thể rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm. Từ đó có thể ký kết những hợp đồng sản xuất quy mô lớn nhằm xuất khẩu sang thị trường các nước trong khu vực cũng như nhiều nước trên thế giới. 

Sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước như các loại ấm chén, bát đĩa, loa hoa,… kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện,.. và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Ngày nay, sản phẩm gốm Bát Tràng đã có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát Tràng đã thu hút nhiều nghệ sỹ và kỹ sư từ Hà Nội và các tỉnh lân cận, nhất là từ trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất.

Cùng với sự thịnh vượng của nghề gốm, đời sống của nhân dân Bát Tràng ngày nay đã có nhiều thay đổi. Trong làng đã có nhiều hộ gia đình giầu có, mua ôtô, mở công ty xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài,… Cho đến nay, xét về đời sống kinh tế của các làng nghề thủ công truyền thống thì Bát Tràng đang trở thành một trong số ít làng nghề thủ công giầu có nhất cả nước.
 
Sự phát triển đi lên của các làng gốm nói chung và làng gốm Bát Tràng nói riêng, cho thấy, tiềm năng phát triển trên cơ sở nghề gốm truyền thống của Việt Nam là rất cao. Nó đã và đang có một sức hút mạnh mẽ đối với các nhà kinh doanh, nhà quản lý, nhà nghiên cứu, người thiết kế,… Tuy nhiên, tiềm năng này sẽ được củng cố hơn nữa nếu người dân, thợ thủ công hiểu được giá trị và có ý thức bảo vệ sự đa dạng và phong phú bản sắc của nghề gốm nói chung của mỗi làng gốm nói riêng. 
 
Lò đứng, Bát Tràng. Ảnh: Phạm Cao Quý

Lò đứng, Bát Tràng. Ảnh: Phạm Cao Quý


Châu thổ sông Hồng có nhiều làng gốm, trung tâm sản xuất gốm khác nhau, mỗi làng , trung tâm gốm đó có những sự đa dạng, khác biệt cơ bản cho dù các làng gốm, trung tâm gốm đó vẫn thuộc tộc người Việt. Như đã thấy, qua mỗi thời kỳ lịch sử mỗi làng gốm, trung tâm gốm có sự thăng trầm khác nhau. Tuy nhiên, bên cạnh một số làng gốm đã, đang bị mai một, một số làng gốm khác vẫn đứng vững và phát triển bằng cách tìm ra những loại hình, chủng loại gốm mới phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của thời đại.

Ngày nay, làng nghề gốm truyền thống đang đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống các làng nghề thủ công truyền thống của Việt Nam. Cùng với nền sản xuất công nghiệp tạo ra một số lượng tổng sản phẩm lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đang ngày càng đa dạng, giải quyết việc làm cho lao động dư thừa ở nông thông, tăng thu nhập quốc dân và ngần sách nhà nước, xoá bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn. Các làng nghề gốm truyền thống còn cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu, là một nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.

Trong thời đại công nghiệp hoá, hàng tiêu dùng rất đa dạng và phong phú thì việc bảo tồn và phát huy sự đa dạng của nghề gốm ở mỗi tộc người, mỗi vùng miền nói chung và của mỗi làng gốm nói riêng không chỉ là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mà còn góp phần không nhỏ cho sự phát triển bền vững kinh tế ở nông thôn./.
Phạm Cao Quý


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website