Bảo tàng cho tương lai và tương lai của bảo tàng


1- Các tác giả cuốn “Cơ sở bảo tàng”do Bảo tàng Cách mạng Việt Nam dịch từ nguyên bản tiếng Anh và xuất bản vào năm 2000 ở Hà Nội đã vô cùng sáng suốt khi đưa ra nhận định “Các bảo tàng là để dành cho con người, và do đó tương lai của các bảo tàng phụ thuộc vào việc tự nâng cấp, tự phát triển để đáp ứng nhu cầu đã được thị trường chỉ rõ”.


Theo nhận thức chủ quan của tôi, ở đây các tác giả muốn nhắn gửi cho chúng ta 3 điều:

Một là, tương lai của bảo tàng phụ thuộc vào chính công chúng của mình.

Hai là, bảo tàng phải đáp ứng nhu cầu do xã hội đặt ra.

Ba là, bảo tàng phải tự nâng cấp, tự phát triển, nghĩa là phải đổi mới để thích nghi với những điều kiện kinh tế-xã hội.

Công chúng với tư cách là người sử dụng sản phẩm và dịch vụ của bảo tàng từ chỗ bị động tiếp thu những thông tin được bảo tàng cung cấp đã chuyển dần sang xu hướng hoàn toàn mới là: Muốn được tự mình khám phá và khai thác các bộ sưu tập hiện vật gốc và các hình thức dịch vụ khác có trong bảo tàng. Có thể nói đây là một xu hướng tích cực mang hơi thở thời đại của “nền kinh tế tri thức”. Đồng thời, xu hướng đó cũng đang đặt ra cho các bảo tàng những thách thức không nhỏ.

Những năm gần đây, có hai hiện tượng mà chúng ta không thể bỏ qua khi bàn tới tương lai của bảo tàng, đó là:

Một là,
sự bùng nổ bảo tàng ở từng quốc gia dân tộc cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Chỉ trong vòng 20 năm trở lại đây, số lượng các bảo tàng trên thế giới đã tăng gấp đôi, từ 30.000 lên đến 60.000 bảo tàng.

Hai là,
Các thiết chế văn hoá khác, các loại hình dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí cũng tăng lên đáng kể.

Vấn đề đặt ra là bản thân các bảo tàng buộc phải tự cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với các thiết chế văn hoá khác về chất lượng và sự đa dạng sản phẩm mà mình cung cấp cho xã hội để lôi kéo công chúng đến với bảo tàng.

Những điều kiện khách quan, nhu cầu của xã hội, nhu cầu của công chúng-những người sử dụng sản phẩm của bảo tàng, đặt ra tiền đề cho sự đổi mới và phát triển bảo tàng trong tương lai. Xu thế chung là nhu cầu xã hội thay đổi nhanh hơn, nhiều nhu cầu mới liên tiếp xuất hiện, nhưng về bản chất, tự thân bảo tàng ở trong trạng thái phát triển tương đối tĩnh. Trạng thái phát triển đó so với xu thế phát triển như vũ bão của toàn cầu hoá về kinh tế và quốc tế hoá về văn hoá thì hình như có cái gì đó còn bất cập. Và vì thế, nếu soi rọi vào thực tế Việt Nam, thì rõ ràng các bảo tàng của chúng ta đang vẫn có sự “trì trệ”, còn rất xa mới ngang tầm yêu cầu thời đại đặt ra. Hoặc cá biệt, ở một số bảo tàng đã “bắt tay” vào thay đổi, thì lại có hiện tượng từ tả chuyển sang hữu, tức là chưa có sự định hướng thật chuẩn xác. Xin nêu một vài ví dụ để minh hoạ - đây chỉ là nhận thức chủ quan của một cá nhân, nếu có gì sai sót rất mong được lượng thứ: Khi chỉnh lý trưng bày, chúng ta đặt vấn đề khắc phục hiện tượng sử dụng tài liệu khoa học phụ nhiều hơn là tổ hợp đề tài để minh hoạ lịch sử bằng việc hầu như chỉ sử dụng các sưu tập hiện vật gốc trong trưng bày. Nhưng sau khi khánh thành, mới thấy bộc lộ nhược điểm là: Hoặc là, vì đưa ra quá nhiều hiện vật gốc trong một bộ sưu tập hoặc một tủ trưng bày, nên chính người xem cũng bị mất phương hướng. Giữa “một rừng” hiện vật như vậy, họ không biết bắt đầu từ đâu và tập trung vào hiện vật nào; có hiện vật tiêu biểu được bao bọc bởi quá nhiều hiện vật khác, nên khách tham quan cũng rất khó quan sát (trường hợp bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Hoặc là, dù đã có sự thay đổi nào đó về nội dung một số chủ đề trưng bày, bổ sung thêm một số sưu tập hiện vật, nhưng thủ pháp mỹ thuật trưng bày vẫn theo lối cũ, thậm chí có thiết bị trưng bày được thay mới, có vẻ hiện đại về chất liệu, nhưng lại chưa đẹp và “chuẩn” bằng thiết bị cũ nên cũng không mang lại hiệu quả như mong muốn (trường hợp Bảo tàng Cách mạng Việt Nam).

Hầu hết các nhà bảo tàng mới được khánh thành trong những năm gần đây không đáp ứng được những yêu cầu thiết yếu cho hoạt động bảo tàng, kinh phí chủ yếu đầu tư vào phần vỏ kiến trúc nên nội dung và mỹ thuật trưng bày rất đơn điệu (ở đây có phần trách nhiệm của Cục Di sản văn hoá trong việc quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn).

Như vậy, hoạt động của các bảo tàng mới chỉ đổi mới ở bề rộng và ở hình thức mà chưa có sự cách tân thực sự theo chiều sâu, đặc biệt là ở nội dung trưng bày. Thực chất là chúng ta đang cung cấp cho người sử dụng (khách tham quan) những sản phẩm theo nhận thức chủ quan của mình chứ không phải những sản phẩm mà họ thực sự quan tâm.

2- Theo cách hiểu của tôi, một trong những nguyên nhân cản trở sức bật, hạn chế tính năng động của các bảo tàng ở Việt Nam là ở chỗ, chúng ta hiểu chưa thật đúng và thống nhất những nội dung cơ bản của khái niệm “bảo tàng”. Tôi xin dẫn ra đây ba định nghĩa làm cơ sở cho sự phân tích của mình:

- Trong Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo tàng được định nghĩa “là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân”.

- Theo định nghĩa mới nhất của ICOM (được thông qua tại Stavanger 1995) thì, “Bảo tàng một thiết chế phi vụ lợi hoạt động lâu dài phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa cho công chúng đến xem, có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, tuyên truyền và trưng bày các bằng chứng vật chất về con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức”.

- Hội Bảo tàng của Mỹ lại có một định nghĩa chi tiết hơn: Bảo tàng là một thiết chế được thành lập hoạt động lâu dài, phi vụ lợi, không chỉ tồn tại vì mục tiêu tiến hành các trưng bày nhất thời, được miễn thuế thu nhập quốc gia, mở cửa phục vụ công chúng và hoạt động theo hướng quan tâm của công chúng, vì mục đích bảo quản và giữ gìn, nghiên cứu, thu thập, trưng bày và giới thiệu tới công chúng mục tiêu tuyên truyền và thưởng thức các hiện vật, mẫu vật có giá trị văn hoá và giáo dục, kể cả những hiện vật về nghệ thuật và khoa học (cả những hiện vật sống và vô tri), tư liệu lịch sử và kỹ thuật. Do vậy các bảo tàng còn bao gồm cả các vườn thực vật, các vườn thú, bể cá, đài thiên văn, cung điện, di tích lịch sử và các di chỉ mà đáp ứng nhu cầu nêu ra ở trên.

Từ những định nghĩa trên, có thể tạm rút ra một số nhận xét sau:
            
Một là, hai đối tượng được nhắc đến trong các định nghĩa là hiện vậtcông chúng (người sử dụng hoặc tiêu thụ các sản phẩm bảo tàng).
            
Hai là, các hoạt động của bảo tàng là nghiên cứu, thu thập, bảo quản, giữ gìn, trưng bày và giới thiệu các bằng chứng vật chất và thông tin về các bằng chứng đó cho công chúng.
            
Ba là, bảo tàng phải là một thiết chế phi vụ lợi, bao giờ cũng lấy mục tiêu phục vụ lợi ích công cộng là chính dù rằng bảo tàng vẫn cung cấp các loại dịch vụ mà người tiêu dùng có nhu cầu sẽ mua bằng tiền.

Bốn là, khái niệm bảo tàng được mở rộng đến mức vô cùng đa dạng về hình thức.

Tất cả các thiết chế đáp ứng các tiêu chí được nhắc đến tại các nhận xét một, hai, ba trên đây đều được gọi là bảo tàng.

Xin được phân tích thêm để làm rõ hơn quan niệm của tôi về bảo tàng. Trong quan niệm “kinh điển” thì cấu trúc không gian cơ bản của một bảo tàng bao gồm:

Một là, không gian bảo quản và xử lý hiện vật.

Hai là, không gian trưng bày trong nhà và ngoài trời.

Ba là, không gian dành cho các thiết bị kỹ thuật.

Bốn là, không gian hành chính, dành cho hoạt động của các cán bộ bảo tàng.

Hiện nay, với nhận thức bảo tàng phải nghiên cứu, thu thập, bảo quản, trưng bày và giới thiệu những bằng chứng thật về chính bản thân con người, không gian của một bảo tàng sẽ được mở rộng, thay đổi tuỳ thuộc vào nhu cầu của con người và mục đích phục vụ con người, thì chí ít cũng cần phải bổ sung một loại không gian nữa vào cấu trúc không gian cơ bản của bảo tàng: Không gian dành cho các loại hình dịch vụ của bảo tàng, cho các dạng hoạt động tự thân, hoạt động giao tiếp mang tính cộng đồng, trình diễn-tự thể hiện của công chúng tham quan bảo tàng (đặc biệt là không gian dành riêng cho tuổi trẻ học đường, cho người khuyết tật v.v...)

Thực tế đang chứng minh rằng, những loại không gian đặc thù như vậy, với các dạng dịch vụ phong phú, là yếu tố tạo ra sức sống mới, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn của một bảo tàng hiện đại. Ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, một bảo tàng được coi là năng động nhất hiện nay, thì những loại không gian vừa nêu trên cũng vẫn còn vô cùng hạn chế-những gì hiện có mới chỉ là những đột phá mang tính thí điểm. Hy vọng trong tương lai, khi phần trưng bày dân tộc học Đông Nam Á được xây dựng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ có điều kiện bổ sung các không gian đặc thù vào cơ cấu không gian chung của Bảo tàng. Và, chỉ bằng con đường đó, bảo tàng mới giúp cho công chúng có cảm giác được trực tiếp tham gia vào các “sự kiện bảo tàng”, họ đến bảo tàng không chỉ với tư cách là khách thể, người tiêu thụ sản phẩm bảo tàng, người mua các dịch vụ bảo tàng mà còn với tư cách là những chủ thể sáng tạo các giá trị văn hoá mới.

Đối với loại hình “bảo tàng sống”, “bảo tàng sinh thái” hoặc “làng bảo tàng”, thì cơ cấu không gian còn mở rộng và đa dạng hơn nữa. Ở các bảo tàng đó, phần trưng bày cố định chỉ tồn tại với tư cách là một trung tâm thông tin giới thiệu khái quát những nội dung chính của bảo tàng, chỉ dẫn cho công chúng biết những địa điểm cần tới. Ở những bảo tàng như thế, nếp sống, lối sống và sinh hoạt đời thường của cộng đồng cư dân địa phương được coi là phần trưng bày sống động nhất. Trong cấu trúc không gian của Bảo tàng sinh thái Hạ Long (Quảng Ninh), thì “làng chài Cửa Vạn”, di tích khảo cổ học thương cảng Vân Đồn, di tích lịch sử bãi cọc Bạch Đằng, cả khu di sản thế giới Vịnh Hạ Long với cảnh trời mây, núi đá và biển, thậm chí khu vực san hô dưới đáy biển, cũng đều là những bộ phận thuộc cơ cấu không gian của bảo tàng. Điều đó có nghĩa là, một bảo tàng hiện đại luôn chứa đựng trong mình bằng chứng vật chất của rất nhiều loại di sản văn hoá và thiên nhiên (động sản và bất động sản, vật thể và phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia v.v...).

Nhưng với các bảo tàng tư nhân, vấn đề đặt ra lại không hoàn toàn như vậy. Với tư duy đổi mới, Luật Di sản văn hoá đã đặt bảo tàng tư nhân dưới sự bảo hộ của pháp luật. Chúng ta sẽ lấy các tiêu chí chung của bảo tàng làm cơ sở xem xét, đánh giá loại hình bảo tàng này, nhưng về cơ cấu không gian thì sẽ phải linh hoạt rất nhiều.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của Việt Nam, tính chất phi vụ lợi của bảo tàng được xác định như thế nào cho đúng với bản chất của nó cũng là một trong những vấn đề sẽ tác động vào tương lai của tất cả các bảo tàng. Tính phi vụ lợi của bảo tàng thể hiện ở chỗ nó lấy nhiệm vụ lợi ích công cộng, phục vụ con người làm mục tiêu chính cho mọi hoạt động của mình. Theo cách hiểu đó, tính phi vụ lợi của bảo tàng không gạt bỏ khỏi nó mọi dịch vụ tạo nguồn thu bổ sung để nâng cao chất lượng các hoạt động nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho lợi ích cộng đồng. Tất cả nhu cầu chân chính của công chúng tới tham quan bảo tàng cần được nghiên cứu và đáp ứng với chất lượng dịch vụ cao nhất và giá dịch vụ thấp nhất trong điều kiện cho phép (không nhằm mục tiêu thu lợi bằng mọi giá). Đó mới là thực chất tính chất phi vụ lợi của bảo tàng. Trước hết, nguồn thu chủ yếu từ vé tham quan bảo tàng và các dịch vụ văn hoá khác rất cần được đặt ra. Mặt khác, bảo tàng còn phải biết xây dựng các dự án nhằm thu hút sự ủng hộ bằng vật chất, kinh phí, trí tuệ của các giới, các tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội, miễn là nội dung hoạt động thể hiện rõ ràng mục đích phục vụ lợi ích công cộng. Muốn thế, các bảo tàng rất cần được Nhà nước tạo cơ chế, chính sách giảm thuế hoặc miễn thuế hoàn toàn cho các hoạt động công ích. Xin nêu một ví dụ: Gần đây, khi làm việc với các đồng nghiệp của Bảo tàng Dân tộc học (của Áo) và Bảo tàng Mỹ thuật Hoàng gia Bỉ về cuộc triển lãm “Văn hoá Việt Nam -từ quá khứ đến hiện đại”, tôi thấy ngoài nội dung hoạt động thuần tuý chuyên môn, bạn còn đặt ra những mục tiêu rất cụ thể về kinh tế, thấm nhuần cơ chế thị trường thời hiện đại. Họ đã xây dựng dự án và nhận được sự ủng hộ của các nhà tài trợ để thực hiện cuộc triển lãm với mức chi phí dự kiến khoảng trên dưới 1 triệu USD. Theo tính toán của bạn, bảo tàng sẽ phải đón được một lượng khách (riêng Bảo tàng Lịch sử Mỹ thuật Hoàng gia Bỉ dự kiến đón 80 ngàn khách tham quan) để ít nhất số tiền thu được qua vé tham quan triển lãm và bán hàng lưu niệm cũng phải đủ hoàn trả chi phí bỏ ra hoặc bội thu hơn để còn đầu tư cho các cuộc triển lãm tiếp theo. Nhưng vấn đề cần quan tâm ở đây là, sản phẩm của họ (thực tế triển lãm) rõ ràng là có chất lượng và phù hợp với đòi hỏi của công chúng.

Cũng cần đề cập một thực tế khác: Nhiều hoạt động đã được các bảo tàng tại nước ngoài thực hiện từ rất lâu, nhưng chúng ta vẫn còn kiêng kị. Ở tất cả các bảo tàng trên thế giới đều có nhà hàng phục vụ ăn uống rất tiện lợi cho khách tham quan nhằm níu kéo họ ở lại bảo tàng lâu hơn, đến bảo tàng nhiều lần hơn. Nhưng ở Việt Nam, có bảo tàng vừa mới mở ra dịch vụ này đã bị nhắc nhở, đình chỉ; ngược lại, cũng có bảo tàng đã cho các nhà hàng hoạt động thì lại biến chúng thành nơi phục vụ cho dân nhậu nhẹt “bia bọt” nhiều hơn là cho khách tham quan bảo tàng.

Trong nhiều cuộc hội thảo trước đây, chúng ta cũng đã bàn tới những chức năng cơ bản của bảo tàng. Tôi nghĩ rằng, đây cũng là một trong những nội dung có liên quan mật thiết tới khái niệm bảo tàng. Nhiều người còn băn khoăn tự hỏi bảo tàng thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học như thế nào? bảo tàng có nghiên cứu khoa học cơ bản hay chỉ nghiên cứu ứng dụng? Khoa học là một lĩnh vực sáng tạo rộng mở, là bể học mênh mông, không giới hạn và cũng chẳng hạn chế đối với bất cứ đối tượng nào, miễn là người đó có sự đam mê và dám dấn thân. Người công tác tại các bảo tàng có điều kiện thuận lợi là dễ tiếp cận với khối tư liệu nguyên gốc được lưu giữ tại kho bảo quản và trưng bày của bảo tàng nên điều kiện nghiên cứu sáng tạo là rất lớn. Tuy nhiên, bảo tàng vẫn cần tập trung nhiều hơn cho việc nghiên cứu những lĩnh vực sau:

Một là,
nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học của các bộ môn khoa học có liên quan phục vụ cho các khâu công tác của bảo tàng.

Hai là,
nghiên cứu nhằm phát hiện những giá trị lịch sử, văn hoá và khoa học được vật chất hoá trong các bộ sưu tập hiện vật gốc của bảo tàng.

Ba là,
nghiên cứu những giải pháp kỹ thuật và mỹ thuật nhằm bảo quản, lưu giữ hiện vật và đặc biệt là, tạo ra không gian cùng điều kiện tối ưu cho công chúng tiếp thu hàm lượng thông tin mà bảo tàng muốn chuyển tải.

Bốn là,
nghiên cứu, tư liệu hoá thông tin phục vụ cho cán bộ nghiên cứu của các bộ môn khoa học cơ bản có liên quan.

Xét về mặt lý thuyết, nghiên cứu khoa học phải được quán triệt ở tất cả các khâu hoạt động của bảo tàng. Điều đáng tiếc là, trong thời gian qua, chúng ta chưa chú ý đầu tư thoả đáng cho mặt hoạt động này. Bảo tàng chỉ thực sự trở thành một sản phẩm có ích cho xã hội khi liên kết được 3 thành tố quan trọng là: Bảo tàng, cán bộ bảo tàng và công chúng. Trong thực tế, chúng ta mới hiểu biết rất ít về công chúng, về những nhu cầu của họ, đặc biệt là sự cảm nhận của họ về sản phẩm mà bảo tàng cung cấp. Công chúng là người thẩm định sáng suốt nhất về chất lượng sản phẩm bảo tàng, hiệu quả công tác bảo tàng. Tôi nghĩ rằng, chúng ta cần sớm củng cố bộ phận công tác giáo dục công chúng của bảo tàng.

Tạo ra tri thức mới là mục tiêu cao nhất cần đặt ra đối với mọi hoạt động của bảo tàng, bởi vì tri thức là yếu tố quan trọng tạo nên động lực cho sự phát triển mà con đường phát hiện hay sáng tạo ra tri thức là cảm thụ trực tiếp kết hợp với suy luận duy lý. Có lẽ đây là sự kết hợp giữa hai nét độc đáo văn hoá Đông và Tây. Nếu người phương Tây lấy lý trí, sự suy luận hợp lý là yếu tố chủ đạo của nhân thức thì người phương Đông lại rất coi trọng sự nhận thức do trực giác của cái tâm đưa lại. Trong bảo tàng, cùng một lúc con người có được cả hai khả năng nhận thức thế giới khách quan bằng lý trí khoa học và cảm nhận trực giác của cái tâm, của linh cảm do các bộ sưu tập của bảo tàng chứa đựng những đối tượng vô cùng phong phú được thu thập từ thế giới tự nhiên và cả trong đời sống xã hội. Đó có thể là bộ mẫu động vật, thực vật, sưu tập khảo cổ học, dân tộc học hoặc sưu tập các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc v.v... Từ chính các sưu tập đó mà bảo tàng có thể giúp công chúng thoả mãn nhu cầu sáng tạo, tự phát hiện và khám phá thế giới khách quan.

Đổi mới chính là sự sáng tạo. Đối với bảo tàng, điều quan trọng bậc nhất là phải có những ý tưởng sáng tạo trong nội dung chủ đề trưng bày và cách tổ hợp các bằng chứng vật chất (hiện vật gốc) để thể hiện nội dung nhằm tới những mục tiêu cụ thể. Trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, hội nhập về văn hoá, bảo tàng phải góp phần khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc, làm cho văn hoá trở thành nền tảng tinh thần cho sự phát triển. Do đó, chúng ta cần chú trọng thể hiện sâu sắc hơn nữa khía cạnh văn hoá trong tất cả các chủ đề trưng bày của bảo tàng, làm rõ nét văn hoá đặc sắc của từng địa phương. Trong tổ hợp các đề tài trưng bày, bảo tàng cần lựa chọn đưa ra những hiện vật thật tiêu biểu, để mỗi bảo tàng có được nét hấp dẫn riêng của mình. Giải pháp đó cũng sẽ giúp các bảo tàng thoát khỏi tình trạng trùng lắp trưng bày với các bảo tàng khác.

Xin dẫn ra đây ý tưởng sáng tạo của nhóm tác giả chuẩn bị nội dung cuộc triển lãm “Văn hoá Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại”tại Bỉ và Áo để minh hoạ.

- Mục tiêu tổng quát đặt ra là phải làm cho công chúng Châu Âu thay đổi nhận thức về đất nước Việt Nam ngàn năm văn hiến: Việt Nam không chỉ anh dũng, kiên cường trong các cuộc kháng chiến bảo vệ và giành độc lập. Việt Nam còn là một dân tộc sáng tạo trong văn hoá, đóng góp xứng đáng vào kho tàng di sản văn hoá toàn nhân loại.

- Theo thông lệ, cơ cấu triển lãm sẽ đi theo trình tự lịch sử từ quá khứ đến hiện tại, nhưng cuộc triển lãm này đã được sáng tạo theo một cấu trúc hoàn toàn mới: Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là phần mở đầu triển lãm; phần lõi cốt của triển lãm giới thiệu những nét văn hoá đặc sắc của Việt Nam; phần kết thúc giới thiệu sinh hoạt đời thường của nhân dân Việt Nam qua một số cửa hàng ở Hà Nội; điểm chốt cuối cùng là điện “thờ Mẫu” - một tín ngưỡng rất thuần Việt. Nhờ cấu trúc triển lãm như thế, ấn tượng đọng lại cho khách tham quan không phải là hình ảnh về chiến tranh mà là những biểu tượng văn hoá Việt Nam.

- Phần đầu triển lãm (về hai cuộc kháng chiến của Việt Nam) lại được mở đầu bằng hiện vật ghi công các bà mẹ Việt Nam anh hùng, với tên tuổi, quê quán cụ thể. Họ đều là những bà mẹ có chồng và 4 hoặc 5 con là liệt sĩ. Bằng cách tổ hợp hiện vật như vậy, các tác giả đã nâng cao ấn tượng và hiệu quả tác động thẩm mỹ của cuộc triển lãm ở tầm cao hơn.

- Phần chính của cuộc triển lãm (những nét đặc sắc của văn hoá Việt Nam) có hai bộ phận cấu thành: Không gian trung tâm (chính giữa phòng) giới thiệu hiện vật dân tộc học phản ánh sự đa dạng văn hoá của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Đai trưng bày bao quanh giới thiệu các cổ vật tiêu biểu của Việt Nam.

- Ý đồ của các tác giả là muốn mở ra những cửa sổ nhỏ cho công chúng tiếp cận một số khía cạnh văn hoá chứ không phải là bức tranh toàn cảnh về văn hoá Việt Nam, cho nên, về giải pháp mỹ thuật, các tủ trưng bày được thiết kế dưới dạng các cánh cửa sổ được mở ra. Rõ ràng, hình thức mỹ thuật phục vụ đắc lực nội dung trưng bày.

Từ những dẫn dụ trên, tôi nhận thấy dường như các bảo tàng ở Việt Nam mới chỉ chú ý nhiều tới việc giới thiệu quá khứ, thường nhãng quên hoặc coi nhẹ việc thể hiện cuộc sống đời thường đang diễn ra hàng ngày. Ngay cả trong phần giới thiệu về lịch sử/quá khứ, chúng ta cũng chưa chú ý gắn nội dung trưng bày đó với những vấn đề mà công chúng hiện đang quan tâm. Tôi cho rằng phải tiếp tục cập nhật hoá những nội dung lịch sử, gắn chúng với những vấn đề của thời đại, chúng ta mới tạo ra sức sống cho các bảo tàngViệt Nam trong tương lai.

Với quan niệm đổi mới trước hết là ở khâu nhận thức, cho nên tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ liên quan tới vấn đề “bảo tàng cho tương lai và tương lai cho bảo tàng”. Mong được trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp.

(Tạp chí Di sản văn hóa số 8 - 2004)
Đặng Văn Bài


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website