Thực trạng việc phân loại bảo tàng ở nước ta và phương pháp trưng bày theo loại hình


Qua 20 năm đổi mới cùng với những thành tựu và sự phát triển chung của đất nước, ngành bảo tàng nước ta đã có những bước tiến quan trọng. Tuy vậy, trên thực tế của hệ thống bảo tàng, khả năng tổ chức hoạt động, cũng như về lĩnh vực bảo tàng học, ngành bảo tàng nước ta vẫn còn nhiều bất cập, đó là chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội, đặc biệt là chưa phản ánh được đầy đủ những giá trị văn hoá, những truyền thống quý giá của cha ông ta qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Để đảm bảo cho ngành bảo tàng nước ta phát triển bền vững, thống nhất trong đa dạng và ngày càng đáp ứng được những đòi hỏi của cuộc sống và xã hội, thì việc phân loại bảo tàng ở nước ta và phương pháp trưng bày theo loại hình là một trong những vấn đề cần được giải quyết. Chúng tôi xin đi vào hai nội dung cụ thể này.

1- Hệ thống bảo tàng nước ta, nhìn từ góc độ phân loại: Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng: Do những yếu tố hạn chế cả về khách quan và chủ quan, những thông tin về sự phát triển của khoa học bảo tàng cũng như sự hoạt động bảo tàng trong điều kiện mới còn rất thiếu thốn.

Về mặt khoa học phân loại, nhìn chung giới bảo tàng chúng ta vẫn duy trì 6 cách phân loại gồm:

- Phân loại loại hình

- Phân loại theo qui định pháp lý

- Phân loại theo phạm vi hoạt động

- Phân loại theo ngành bảo tàng trực thuộc

- Phân loại theo lãnh thổ

- Bảo tàng lưu niệm

Như vậy mặt lý thuyết, người ta có thể sử dụng một trong các cách phân loại đó để làm cơ sở khoa học cho việc phân loại hệ thống bảo tàng ở mỗi nước hay ở mỗi khu vực. Trong mỗi cách phân loại đều có nguyên tắc chung về những nội dung của sự phân loại và sự quy chuẩn cho phù hợp với những đặc điểm của mỗi quốc gia (vì lịch sử hình thành, quá trình đấu tranh, điều kiện thiên nhiên, khí hậu và quan trọng nhất là đặc trưng văn hoá không giống nhau). Chính vì vậy mà cách phân loại cũng không bắt buộc phải giống nhau một cách máy móc theo lý thuyết phân loại bảo tàng.

Về nguyên tắc phân loại theo loại hình: Đây là cách phân loại phổ biến và chủ yếu vì nó bao quát rộng trên nhiều phạm vi, nhiều lĩnh vực. Có thể nói, nguyên tắc phân loại theo loại hình, với cơ sở khoa học của nó, chính là sự chuyên môn hóa các sưu tập bảo tàng nhờ mối liên hệ với các bộ môn khoa học tương ứng, và không lệ thuộc bởi các yếu tố khác như qui định pháp lý, phạm vi hoạt động hay lãnh thổ.

Về nguyên tắc phân loại theo qui định pháp lý: Nguyên tắc này dựa trên vấn đề sở hữu của các bảo tàng, để xếp nó vào bảo tàng của Nhà nước hay của tư nhân hoặc tổ chức xã hội nào đó. Nguyên tắc này thật đơn giản về hình thức, nhưng các yếu tố khoa học và khả năng phát triển, kể cả sự quan tâm đến khả năng phát triển của các bảo tàng trong hệ thống bảo tàng của một quốc gia thật hạn chế.

Về nguyên tắc phân loại theo phạm vi hoạt động: Cách phân loại này làm mất đi khả năng phát triển của mỗi bảo tàng, vì cách phân loại này vô hình chung đã đóng khung nó trong qui hoạch và trong phạm vi hoạt động cũng như nội dung trưng bày của nó. Ấy là, chưa nói đến cơ sở khoa học để xác định phạm vi hoạt động của mỗi bảo tàng, vì không dễ gì bảo đảm được bảo tàng này hoạt động đến đâu là đủ, là vừa. Cách phân loại này dựa vào ý chí nhiều hơn là khoa học.

Về nguyên tắc phân loại bảo tàng theo ngành trực thuộc: Cách phân loại này quả có đơn giản hơn, vì bảo tàng của ngành nào thì mang tên gọi bảo tàng của ngành đó, nhưng tính đơn điệu sẽ đậm nét và khả năng qui hoạch, định hướng phát triển cho một hệ thống sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đồng thời, yếu tố hành chính dần dần sẽ lấn át yếu tố khoa học trong hệ thống bảo tàng. Bên cạnh đó, còn phải nhìn nhận thấy vấn đề mất dần những sưu tập hiện vật có tính quốc gia và quốc tế vì sự chia đều cho các cơ quan và đơn vị bảo tàng. Ở đây cũng cần nhắc đến một quan niệm cho rằng nguyên tắc phân loại theo ngành trực thuộc Bộ Văn hoá-Thông tin  quản lý và những bảo tàng thuộc các ngành chủ quản, quan niệm này vừa không thoả đáng vừa tạo sự bất bình đẳng trong hệ thống bảo tàng, đồng thời thiếu tính thuyết phục về nguyên tắc quản lý nhà nước và nguyên tắc quản lý nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn là Cục Di sản văn hoá.

Về nguyên tắc phân loại theo địa danh hành chính (lãnh thổ): Cách phân loại này sẽ rơi vào chủ nghĩa bình quân, coi trọng số lượng và không chú ý được về chất lượng, bởi vậy tạo ra sự chia cắt lịch sử của một lĩnh vực, một ngành hay cả một truyền thống, thậm chí lịch sử bị chia nhỏ thành các mảng có khi không gần nhau. Cách phân chia này còn tạo ra một sự nhàm chán vì sự giống nhau và trùng lặp về nội dung giữa các bảo tàng.

Về loại hình bảo tàng lưu niệm: Chúng tôi cho rằng không nên có một loại hình là bảo tàng lưu niệm, vì không có danh nhân hay vĩ nhân nào là tách khỏi lịch sử hay khoa học hoặc văn hoá cả.

Với hơn 120 bảo tàng chính thức của nước ta hiện nay, đang hoạt động với thời gian ngắn dài không giống nhau, phạm vi rộng hẹp cũng không như nhau, hiệu quả hoạt động cũng có cái được, cái chưa được… Từ góc độ phân loại chúng ta có thể nêu ra mấy ý kiến sau đây:

Một là: Việc phân loại trong hệ thống bảo tàng nước ta còn chưa rõ ràng, chưa  tuân theo một nguyên tắc dứt khoát nào, có thể nói chúng ta phân loại bảo tàng theo tất cả các cách chúng ta có được. Vì thiếu một quy hoạch, một định hướng rõ ràng, hay nói rõ hơn là chúng ta chưa có một chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống bảo tàng nước ta, cho nên việc phân loại bảo tàng cũng còn nhiều bất cập. Nếu đối chiếu (kể cả loại bảo tàng lưu niệm) thì chúng ta phân loại bảo tàng theo cả 6 cách trên, với nguyên tắc phân loại theo loại hình chúng ta có loại hình bảo tàng lịch sử xã hội như Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử quân sự), Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Điện Biên Phủ… Loại hình bảo tàng lịch sử tự nhiên chúng ta có Bảo tàng Hải dương học, Bảo tàng Địa chất, Bảo tàng Sinh học… Với nguyên tắc phân loại theo qui định pháp lý thì hầu hết bảo tàng nước ta thuộc sở hữu Nhà nước và cũng có một số bảo tàng của các tổ chức xã hội, như Bảo tàng Hội nhà văn, Bảo tàng Nghệ thuật biểu diễn và một số bảo tàng tư nhân đã hoạt động mà chưa được đăng ký chính thức. Với nguyên tắc phân loại theo phạm vi hoạt động chúng ta có 6 bảo tàng cấp quốc gia trong khi đó có những bảo tàng rất quan trọng lại chỉ ở cấp địa phương hay ngành, như Bảo tàng Chăm ở Đà Nẵng, Bảo tàng Hải dương học ở Nha Trang, Bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội… Với nguyên tắc phân loại ngành trực thuộc chúng ta có hệ thống bảo tàng Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng, Bảo tàng Bưu điện thuộc Tổng Cục Bưu điện, Bảo tàng Dân tộc học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Bảo tàng Hải dương học thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam, Bảo tàng Công an thuộc Bộ Công an, Bảo tàng Phụ nữ thuộc Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Với nguyên tắc phân loại theo địa danh hành chính thì có cả 64 tỉnh thành phố đều có bảo tàng…Như vậy rõ ràng cách phân loại cho hệ thống bảo tàng ở nước ta còn chồng chéo chưa theo một nguyên tắc cụ thể nào.

Hai là: Thực tế trên cho chúng ta thấy từ góc độ phân loại hệ thống bảo tàng Việt Nam còn nghèo nàn, tuy với con số hơn 120 bảo tàng, nhưng thực tế là vừa nghèo nàn và đơn điệu, lại vừa manh mún chắp vá. Chúng ta lâm vào tình trạng một số bảo tàng ở thủ đô được nâng cấp thành bảo tàng Quốc gia (chỉ có 6 bảo tàng) còn những bảo tàng xa Hà Nội hoặc không với tới được, cả về lý do khoa học và lý do tài chính, thì biến nó thành bảo tàng theo phạm vi hoạt động… Việc “tỉnh tỉnh có bảo tàng, ngành ngành có bảo tàng” đã làm cho ngành bảo tàng nước ta vốn đã ít lại càng thêm yếu kém về mọi mặt như nhỏ về cơ sở vật chất, nghèo nàn về tài liệu hiện vật, manh mún về tổ chức hoạt động, gây nên một hiện tượng chỉ cần xem dăm ba bảo tàng là về cơ bản biết được bức tranh toàn cảnh của hệ thống bảo tàng cả nước.

Ba là: Việc chưa chú ý đúng mức đến vấn đề phân loại bảo tàng nên đã dẫn đến việc chạy theo các bảo tàng ngành và bảo tàng giới (như Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ…) làm cho hệ thống bảo tàng không phải là phong phú mà lại rối rắm, phức tạp. Một thời gian dài trung thành với loại hình bảo tàng khảo cứu địa phương đã làm cho bảo tàng nước ta bị trùng lặp nghiêm trọng, làm mất đi tính đa dạng, tính đặc trưng văn hoá vùng miền và tỉnh thành, biến bảo tàng thành một mẫu hình chung cho tất cả (!). Việc tự phát ra loại hình bảo tàng đầu hệ và hệ thống bảo tàng chi nhánh không phải vì lý do đặc biệt mà trở thành đại trà, càng làm cho hệ thống bảo tàng Việt Nam vốn đang bị căn bệnh trùng lặp lại càng dễ trùng lặp hơn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị khoa học và tính hấp dẫn của các bảo tàng.

Bốn là: Việc để kéo dài tình trạng lúng túng trong việc chưa đưa vấn đề phân loại bảo tàng vào thành một nội dung của chương trình qui hoạch hệ thống các bảo tàng Việt Nam, đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề thống nhất quản lý toàn bộ các tài liệu hiện vật bảo tàng trong phạm vi cả nước. Chính vì thiếu sự thống nhất quản lý tài liệu hiện vật bảo tàng, nên đã và đang làm chậm trễ việc điều chuyển và xây dựng các bộ sưu tập và các sưu tập (cả hiện vật bảo tàng quan trọng của Việt Nam), một việc mà các nước tiên tiến, các cường quốc bảo tàng đã thực hiện từ lâu.

Năm là: Việc chưa tiến hành phân loại hệ thống bảo tàng Việt Nam theo một nguyên tắc khoa học phù hợp và có định hướng phát triển đã là một nguyên nhân làm cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho hệ thống bảo tàng nước ta kém hiệu quả. Kiểu đầu tư dàn đều, khiến cho các bảo tàng hầu hết nằm trong tình trạng dở dang, chắp vá, không có hoặc có rất ít công trình bảo tàng “đàng hoàng đáng tầm cỡ” đảm bảo được cả 4 yêu cầu là nội dung - mỹ thuật - kiến trúc và kỹ thuật. Điều này hiện nay cũng đang trở thành một trở ngại rất lớn cho chủ trương hiện đại hoá hệ thống bảo tàng nước ta trong xu thế công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Sáu là: Việc thiếu định hướng về phân loại kéo dài đã dẫn đến việc làm cho hệ thống bảo tàng nước ta mất cân đối nghiệm trọng. Loại hình bảo tàng lịch sử tự nhiên có rất ít và trong rất nhiều năm loại hình này không thể phát triển nổi vì thiếu định hướng, thiếu đầu tư xây dựng, còn bảo tàng sinh thái trên đất nước ta hầu như không có. Chính thực tế này đã làm cho bức tranh bảo tàng ở nước ta trở nên nghèo nàn đơn điệu, khó chấp nhận.

Bẩy là: Việc để lơi lỏng nguyên tắc phân loại bảo tàng ở nước ta, hay nói chính xác là việc phân loại bảo tàng ở nước ta còn chồng chéo, chưa thể hiện một nguyên tắc nhất quán, đã gây khó khăn và lúng túng cho cơ quan quản lý nhà nước. Đây cũng là một thực tế, trong nhiều năm nay, vẫn chưa tìm được giải pháp thích hợp cho việc thống nhất quản lý nhà nước cho toàn bộ hệ thống bảo tàng Việt Nam; Giải quyết được một cách khoa học và có tính thuyết phục về các chủ trương hay quan điểm sát nhập các bảo tàng cùng loại hình, cùng chức năng nghiệp vụ, xây mới các các bảo tàng có giá trị cao đã tạo ra khả năng mới cho việc giao lưu mở rộng quan hệ và các hoạt động quốc tế của hệ thống bảo tàng nước ta, đây đang là vấn đề cần được khắc phục sớm để chủ động hội nhập, chủ động với xu thế toàn cầu hoá ngày càng rộng và ngày càng sâu.

Với 7 nhận xét về hệ thống bảo tàng nước ta, nhìn từ góc độ phân loại bảo tàng, chúng tôi chỉ xin nêu những mặt hạn chế, những bất cập mà nguyên nhân chính là từ phân loại bảo tàng chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng kể cả về nghiên cứu qui hoạch ở tầm vĩ mô và cả ở đầu tư, tổ chức hoạt động cho từng bảo tàng cụ thể.

Từ những nhận xét trên chúng tôi cho rằng phương pháp phân loại theo loại hình là phương pháp có nhiều ưu thế cần được áp dụng, để phân loại và qui hoạch phát triển hệ thống bảo tàng ở nước ta. Nói như vậy không có nghĩa rằng giới bảo tàng nước ta chưa hề làm quen với cách phân loại này, trong cuốn Cơ sở Bảo tàng học của trường Đại học Văn hoá đã viết về cách phân loại này và khẳng định rằng: “cơ sở của cách phân loại này chính là sự chuyên môn hoá các sưu tập hiện vật và hoạt động của bảo tàng”. Hoặc trong phần mở đầu của cuốn “Cơ sở Bảo tàng học” do Hội đồng Bảo tàng thế giới ấn hành (Bảo tàng Cách mạng Việt Nam dịch và hiệu đính) có đưa ra một số phương pháp trưng bày, trong đó nhấn mạnh “phương pháp phân loại theo các sưu tập hiện vật”, theo chúng tôi đó là một cách hiểu của phương pháp phân loại theo loại hình. Và một vấn đề được đặt ra là: Cơ sở để phân loại theo loại hình là gì? Chúng tôi xin nêu ra 3 cơ sở là:

Một là: Phân loại theo loại hình là cách phân loại dựa trên các sưu tập hiện vật gốc (có khi còn gọi là các bộ sưu tập). Ở bất cứ một bảo tàng nào, hiện vật gốc vẫn luôn giữ một vai trò quyết định, không chỉ về giá trị khoa học của bảo tàng mà còn quyết định cả qui mô, khả năng, phạm vi hoạt động và sự phát triển của bảo tàng đó. Trong thực tế khi tổ chức một bảo tàng thì vấn đề nghiên cứu khoa học bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu, kết quả nghiên cứu đó sẽ là nội dung trưng bày (nội dung trưng bày sẽ quyết định giải pháp trưng bày) - giải pháp trưng bày sẽ đặt ra các yêu cầu cho kiến trúc công trình, vấn đề kỹ thuật và công nghệ cho bảo tàng đó.

Hai là: Đối với việc phân loại bảo tàng theo loại hình thì việc nghiên cứu, xây dựng và tổ chức trưng bày phải gắn liền và không thể tách rời với việc nghiên cứu đối tượng trưng bày đó - nghĩa là bộ môn khoa học tương ứng với bảo tàng. Bởi xét cho cùng, ngoài những chức năng chung, thì bảo tàng nào cũng có những chức năng riêng, mục đích riêng, do chính đặc trưng và khuynh hướng phát triển của bộ môn khoa học đó qui định. Như vậy, cách phân loại này có ưu thế đảm bảo sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, tạo sự thống nhất trong đa dạng, đảm bảo phong phú cho hệ thống mà không bị trùng lặp, chồng chéo và nhàm chán.

Ba là: Cách phân loại theo loại hình sẽ tạo điều kiện cho chúng ta xem xét giải quyết, mối quan hệ hỗ trợ bổ sung cho các bảo tàng khác nhau, đồng thời, còn cho phép xây dựng các tiêu chí để phân cấp các bảo tàng một cách khoa học thay cho kiểu phân cấp hiện nay là bảo tàng quốc gia, bảo tàng địa phương, bảo tàng chuyên đề, bảo tàng ngành, bảo tàng đầu hệ... còn rối rắm và khó hiểu. Về mối quan hệ giữa các bảo tàng trong hệ thống, theo chúng tôi có thể tiếp cận ở 3 góc độ.

- Đó là mối quan hệ giữa các sưu tập hiện vật gốc của các bảo tàng khác nhau từ nguồn gốc, số lượng, đặc trưng văn hoá, chất lượng khoa học, khả năng tham gia các sưu tập hiện vật quốc gia…

- Đó là mối quan hệ chức năng, nhiệm vụ, qui mô, phạm vi hoạt động khả năng lan toả của mỗi bảo tàng, đặc biệt là khả năng nghiên cứu khoa học, vai trò trong tuyên truyền giáo dục và ưu thế trong các hoạt động du lịch văn hoá, thưởng thức và giải trí.

- Đó là mối quan hệ và khả năng hoạt động theo mô hình liên ngành của mỗi bảo tàng. Đây chính là khả năng để ngành bảo tàng có thể chủ động sử dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới bước vào nền kinh tế tri thức, có như vậy bảo tàng mới có thể trở thành một động lực thúc đẩy phát triển được.

2 - Phương pháp trưng bày theo loại hình - một vài đề xuất:

Trưng bày bảo tàng là vấn đề không còn mới, nhưng nếu đặt nó là đối tượng nghiên cứu thì cũng còn rất nhiều vấn đề.

Từ xưa đến nay, chúng ta vẫn thường làm và truyền nghề cho nhau về những phương pháp trưng bày, như theo niên đại (trưng bày theo tuần tự thời gian), theo chuyên đề (trưng bày theo đề tài mà kết cấu nội dung quyết định), rồi theo đề cương (nghĩa là trưng bày theo một “kịch bản văn học” đã được xây dựng trên cơ sở tài liệu hiện vật)... Theo chúng tôi, nếu thực hiện được việc phân loại bảo tàng theo loại hình, để quy hoạch phát triển hệ thống bảo tàng Việt Nam, thì chúng ta cũng sẽ có một phương pháp trưng bày tương ứng.

Phương pháp trưng bày theo loại hình là: Lấy các sưu tập hiện vật gốc làm cơ sở, xử lý khoa học mối quan hệ của 4 thành tố là nội dung - mỹ thuật - kiến trúc và kỹ thuật trong tổ chức trưng bày, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa giải pháp tổng thể và giải pháp cục bộ, tạo môi trường sáng tạo cho hoạ sỹ về ý tưởng và các vấn đề liên quan. Như vậy từ khái niệm vừa nêu ra, chúng ta có thể tiếp cận phương pháp trưng bày theo loại hình ở mấy vấn đề sau:

Một là, trước hết và nhất thiết phải dựa vào sưu tập hiện vật gốc để hình thành và lựa chọn giải pháp trưng bày. Bởi vì nói cho cùng, các sưu tập hiện vật mới là yếu tố quyết định về sự thành công của một trưng bày nói riêng và của mỗi bảo tàng nói chung. Trưng bày chính là công việc để đưa hiện vật ra đối thoại với công chúng bằng các giải pháp, biện pháp khác nhau,kể cả việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ, để cho công chúng có thể tiếp nhận từ hiện vật bảo tàng những thông tin, những trí thức, nhận thức khoa học, đạo đức và thẩm mỹ có giá trị nhất. Do vậy, phương pháp trưng bày theo loại hình không bị lệ thuộc vào phạm vi lãnh thổ, hình thức sở hữu hay ngành trực thuộc để làm cơ sở khoa học xây dựng giải pháp trưng bày được.

Hai là, phương pháp xử lý khoa học và đồng bộ mối quan hệ giữa nội dung khoa học - mỹ thuật - kiến trúc và kỹ thuật. Bất cứ một trưng bày bảo tàng hiện đại nào trong quá trình xử lý để tìm ra giải pháp trưng bày hiệu quả nhất cũng bắt buộc phải giải quyết đồng thời cả 4 yếu tố đó, mới có thể lý giải được đầy đủ tính khoa học và tính mỹ thuật trong phương án đã được lựa chọn và cho là ưu tú nhất. Bởi vì, trước hết cần phải khai thác hết nội dung của trưng bày, bao gồm: Đề cương trưng bày là văn bản có tính pháp lý; cấu tạo đề cương trưng bày là văn bản xác định cấu trúc và quy mô trưng bày; kế hoạch trưng bày là văn bản cho tác giả phương án biết rõ khối lượng tài liệu hiện vật trưng bày, đặc tính của từng tài liệu hiện vật về lý, hoá, về trọng lượng, khối lượng, về ý nghĩa lịch sử và những thông tin của từng tài liệu hiện vật đó. Văn bản cuối cùng của phần nội dung trưng bày là “kịch bản trưng bày”, đây là văn bản cho tác giả phương án về các ý tưởng nghệ thuật, tạo điều kiện để tác giả tiến tới và sử dụng các loại hình nghệ thuật khác nhau, các thủ pháp khác nhau làm cho các hiện vật được sống lại trong môi trường của nó, tạo cảm hứng cho công chúng khám phá và hưởng thụ những thông tin từ tài liệu hiện vật được sử dụng trong trưng bày. Phương pháp trưng bày theo loại hình bảo tàng về mặt mỹ thuật cho phép tác giả thoát khỏi lối mòn gò bó về xử lý mỹ thuật, cho phép đa dạng hoá và khuyến khích sự sáng tạo, từ giải pháp cho đến những chi tiết mỹ thuật cụ thể, cho từng hiện vật. Phương pháp này còn cho phép tranh thủ được sự phối kết hợp với kiến trúc cả về quy mô công trình, kiểu dáng kiến trúc, sự hài hoà giữa nội thất và ngoại thất, làm cho kiến trúc một công trình bảo tàng vừa phải có giá trị kiến trúc vừa phải thể hiện được sự đồng điệu giữa nội dung mỹ thuật và kiến trúc, nhằm đảm bảo trong tương lai, chính các công trình kiến trúc ấy sẽ trở thành một di sản văn hoá của dân tộc. Phương pháp trưng bày theo loại hình bảo tàng với sự giải quyết biện chứng mối quan hệ giữa nội dung - mỹ thuật - kiến trúc và kỹ thuật còn cho phép phương án có thể tiếp cận được với khoa học kỹ thuật và công nghệ để sử dụng hợp lý và khôn ngoan nhất các thiết bị, các phương tiện kỹ thuật để phục vụ đạt hiệu quả cao cho trưng bày. Điểm cuối cùng cần lưu ý trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa nội dung - mỹ thuật - kiến trúc và kỹ thuật đó là trật tự không đảo ngược của 4 yếu tố đó, nghĩa là trong mối quan hệ ấy mặc dù luôn luôn có sự tác động lẫn nhau nhưng nội dung khoa học giữ vai trò quyết định và chi phối, đồng thời phương án mỹ thuật phải được xây dựng trước cùng với nhiệm vụ thiết kế của công trình, điều đó có nghĩa là kiến trúc của công trình bảo tàng vừa phải đáp ứng được yêu cầu của nội dung lại vừa phải thoả mãn được các yêu cầu của mỹ thuật trên các quy hoạch về tổng thể và cả về các giải pháp cụ thể. Khâu kỹ thuật được xếp cuối cùng chính là nhằm đáp ứng yêu cầu của nội dung mỹ thuật và kiến trúc, khi phương án trưng bày đã được khẳng định.

Ba là: Phương pháp trưng bày theo loại hình bảo tàng cho phép chúng ta sử dụng rộng rãi một loạt giải pháp cụ thể mang tính nguyên tắc, đó là:

- Giải pháp quy hoạch tổng thể, được quy định bởi loại hình bảo tàng, để xác định quy mô, diện tích các thành phần cần thiết phải có của các bảo tàng, như: khu kho cơ sở, khu vực trưng bày, khu vực hoạt động công cộng, hoặc bảo tàng cần có hay không khu vực trưng bày ngoài trời, khuôn viên, khu vực phục vụ hoạt động văn hoá hay giải trí...? Có khu vực thực nghiệm các kiến thức đã được giới thiệu trong bảo tàng hay không? Hay có nơi để ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào việc khai thác thông tin hoặc tái tạo các môi trường sống của hiện vật đó hay không?... Giải pháp quy hoạch tổng thể không chỉ thoả mãn yêu cầu trước mắt của bảo tàng mà phải tính được khả năng phát triển của bảo tàng trong tương lai.

- Giải pháp xử lý mặt bằng trong trưng bày, chính là sự can thiệp của mỹ thuật vào việc bố cục nội dung trưng bày, phải đảm bảo đầy đủ khối lượng nội dung, tính logíc, yếu tố thẩm mỹ và có ít nhất một hành trình tham quan khoa học tiện lợi và tiết kiệm nhất. Giải pháp xử lý mặt bằng trong bảo tàng còn phải thể hiện được sự vận động phát triển, sự tương tác và hỗ trợ phát triển của các yếu tố tự nhiên, xã hội và con người trong một điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nào đó. Và, đương nhiên các phần trưng bày phải luôn đảm bảo sự gắn bó với nhau cả về nội dung và cả về hình thức.

- Giải pháp xử lý đai và diện trưng bày, là công việc xác định được các diện trưng bày không gian ba chiều và xác định hệ thống đai trưng bày (diện chính), xác định được mối quan hệ giữa các trung tâm, các điểm nhấn... Giải pháp này đảm bảo cho trưng bày đa dạng phong phú và không bị trùng lặp cả về nội dung trưng bày và hình thức mỹ thuật, đồng thời xác định khả năng sử dụng các loại hình mỹ thuật khác nhau như điêu khắc, tranh, đồ hoạ, trang trí nội thất... để tập trung tạo sự hấp dẫn cho giải pháp, đảm bảo vừa có tiếng nói chung của trưng bày lại vừa có ngôn ngữ riêng của nghệ thuật.

- Giải pháp xử lý các hiện vật trưng bày, chúng ta đều biết ngoài hiện vật gốc trưng bày bảo tàng còn có tới 5 loại hiện vật nữa, giải pháp này chính là khẳng định quan điểm xử lý hiện vật trong trưng bày, cách bày trí sắp xếp, phương pháp đưa nghệ thuật tới từng hiện vật trưng bày như thế nào, để cho các hiện vật tự nói lên được ngôn ngữ của nó bằng môi trường sống và sự cảm thụ thông qua cảm xúc thẩm mỹ từ trưng bày bảo tàng mang lại.

- Giải pháp về màu sắc trong trưng bày bào tàng, màu sắc được sử dụng theo nguyên tắc lựa chọn “gam” chủ đề phù hợp với nội dung trưng bày, đặc trưng loại hình bảo tàng, rồi từ đó lệ thuộc vào khả năng biến hoá màu sắc, sao cho cảm xúc của công chúng được hoà nhập vào nội dung và sự hứng thú được hướng đến bằng màu sắc được xử lý tinh tế trong từng chi tiết và vững chắc ở toàn bộ các phần trưng bày. Giải pháp về màu sắc còn được thể hiện trong việc xử lý thích hợp với những nét riêng về phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, kể cả một số yếu tố tâm linh của một cộng đồng công chúng cụ thể.

- Giải pháp về ánh sáng, cần phải thoả mãn được các yếu tố sau:

+ Chiếu sáng chung phục vụ công chúng khi tiếp cận với hệ thống trưng bày, các tài liệu hiện vật và kể cả những phần cung cấp thông tin đặc biệt.

+ Chiếu sáng cục bộ, nhằm phục vụ cho những điểm nhấn và những trung tâm trưng bày được xác định ở những vị trí thuận lợi nhất cho sự dừng chân của khách tham quan.

+ Chiếu sáng nghệ thuật, nhằm phục vụ cho những khu vực gây xúc cảm, tạo ra những tình cảm đặc biệt gây ấn tượng và lắng đọng lâu dài cho khách tham quan.

+ Chiếu sáng thoát hiểm.

+ Chiếu sáng phục vụ cho công tác bảo quản vệ sinh và chỉnh lý trưng bày.

Nhìn chung giải pháp chiếu sáng phải thoả mãn các yêu cầu trưng bày, nó không đơn giản chỉ để nhìn rõ, mà còn góp phần quan trọng cho sự hoàn chỉnh một giải pháp mỹ thuật. Đồng thời, chiếu sáng trong trưng bày còn phải đảm bảo một yêu cầu khác nữa, đó là chế độ chiếu sáng, việc lựa chọn ánh sáng cũng như sử dụng các phương tiện chiếu sáng nhất thiết không được làm hư hỏng đến tài liệu hiện vật, kể cả các phương tiện hay thiết bị trưng bày.

- Giải pháp sử dụng các thiết bị kỹ thuật và phương tiện phục vụ cho trưng bày, cho phép hoàn thiện phương án trưng bày trên cơ sở sử dụng và đưa vào trong phần trưng bày các thiết bị và phương tiện kỹ thuật hợp lý để tăng cường khả năng cung cấp và khai thác thông tin từ các tài liệu hiện vật trưng bày. Song cần lưu ý là, không được lạm dụng quá mức các thiết bị và phương tiện kỹ thuật, cùng các giải pháp mỹ thuật để đảm bảo được nguyên tắc trực quan sinh động - ngôn ngữ của trưng bày bảo tàng.

- Giải pháp về hành trình tham quan, tuy được sắp xếp ở thứ tự cuối cùng, nhưng đây là giải pháp không kém phần quan trọng. Bởi xét cho cùng thì trưng bày đẹp, khoa học, hấp dẫn, nếu không tạo điều kiện để người xem tiếp cận thì cũng không đạt được mong muốn gì. Do vậy, giải pháp về hành trình tham quan cần phải thoả mãn một số yêu cầu, như:

+ Phải tạo được các hành trình tham quan khác nhau để phục vụ công chúng đến bảo tàng với những yêu cầu khác nhau, làm sao cho các hành trình đó không bị chồng chéo, không bị chia cắt hoặc cản trở lẫn nhau.

+ Các hành trình tham quan phải tạo điều kiện để công chúng được tiếp cận gần nhất đến các hiện vật trưng bày, đặc biệt là ở các trung tâm, các điểm nhấn và các khu vực gây xúc cảm trong hệ thống trưng bày.

+ Các hành trình tham quan còn cần phải chú ý đến một số yêu cầu khác như: Tiết kiệm thời gian, bảo vệ sức khoẻ của khách, phục vụ người tàn tật, thuận lợi thoát hiểm khi có sự cố...

+ Các hành trình tham quan phải được chỉ dẫn bằng hệ thống chiếu sáng, bố cục mảng màu, hoặc bằng giải pháp kiến trúc để khách tham quan dễ dàng phân biệt và tự thực hiện được một hành trình tham quan đúng bố cục trưng bày và hợp với yêu cầu của khách.

Phương pháp trưng bày theo loại hình bảo tàng có thể xem là một phương pháp chung để áp dụng cho các loại hình bảo tàng khi đã thực hiện phân loại. Cũng có thể xem đây là phương pháp trưng bày chung nhất, trên cơ sở thống nhất nguyên tắc để vận dụng vào từng loại hình và từng bảo tàng cụ thể. Phương pháp này dựa trên các sưu tập hiện vật gốc để giải quyết mối quan hệ giữa nội dung - mỹ thuật - kiến trúc và kỹ thuật, đồng thời nó cũng đưa ra một hệ thống các giải pháp cụ thể để phục vụ cho phương án mỹ thuật trưng bày. Phương pháp trưng bày theo loại hình cũng có thể xem là một phương pháp mở, không đóng khung về nguyên tắc, mà luôn tạo ra những gợi mở thúc đẩy sự sáng tạo, bởi phương án trưng bày hay giải pháp mỹ thuật thực chất là lao động nghệ thuật, một sự lao động nghệ thuật tổng hợp, vì nếu không có sáng tạo thì cũng không thể có sự phát triển của phương pháp trưng bày bảo tàng.

(Tạp chí Di sản văn hóa số 3 (12) - 2005)

Đỗ Đức Hinh


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website