Nghệ thuật Khèn của người Mông


Khèn là nhạc cụ độc đáo thể hiện tín ngưỡng truyền thống và là vật linh thiêng trong các nghi lễ, lễ hội của người Mông. Truyền thuyết về cây khèn thể hiện tình cảm hiếu đễ của những người con đối với cha mẹ mình.

Người Mông thường múa khèn khi có đám tang, đám giỗ hoặc trình diễn trong lễ hội. Nghệ thuật Khèn của người Mông gắn liền với các lễ nghi truyền thống ở Mộc Châu, Sơn La như: Nào Sồng (ăn ước), cúng đá, cúng dòng họ, kiêng động rừng tổ chức vào tháng 7 Âm lịch. Đặc biệt, múa và thổi khèn không thể thiếu được trong lễ tang của người Mông, từ khi con người tắt thở đến khi người chết đã được chôn cất chu đáo, vào ngày giỗ (từ 01 - 03 năm sau đám tang) để tiễn đưa linh hồn người chết, cảm ơn bà con đến chia buồn với gia chủ.

Khèn được chế tác từ gỗ pơ mu trắng, đỏ hoặc gỗ cây thông đá, cây măng dê, vỏ cây đào rừng, lá đồng, bạc trắng, thuốc lào hoặc lá cây thuốc lào, tóc và vỏ con ve sầu (hoặc con záu), mỡ lợn, ống tre, que nứa. Khèn Mông có hai loại: loại có âm thanh bổng là khèn ngắn, loại có âm thanh cao là khèn dài.

Khèn Mông vừa là nhạc cụ vừa là đạo cụ múa, thổi khèn thường đi đôi với múa. Múa khèn có thể một người, bốn người hoặc hơn. Người Mông trắng múa khèn thì đá chân nhau, còn người Mông hoa múa khèn lại tự đá chân mình.

Âm thanh của khèn Mông so với khèn bè Thái, Lào thì có âm lượng lớn hơn, âm sắc chắc hơn, có thể tấu được nhanh, chậm, nhưng không có khả năng diễn tấu chuyển điệu. Học thổi, múa và nghe được khèn Mông rất khó, và càng không dễ có thể am hiểu hết được những giai điệu của khèn. Để trở thành một người thổi khèn giỏi, người con trai Mông phải tập khèn từ 12 - 13 tuổi, có thân hình khỏe, mềm dẻo, nhịp nhàng, nhưng quan trọng hơn cả là cách lấy hơi, rèn khí để hơi được sâu, được dài.

Mỗi bài khèn Mông có 6 đoạn, cũng có bài chỉ có 3 - 4 đoạn. Một bài khèn Mông bao gồm những câu hoa - khèn (pa - khênh). Hoa - khèn là những câu nhạc phụ giữ vai trò "hoa lá", không có lời ca tương ứng. Hoa - khèn có giai điệu, nó cũng như những nét nhạc không lời, nó cũng như phần dạo nhạc mở đầu và kết thúc một bài ca. Hạt - khèn là những câu nhạc chính, giữ vai trò "nhân cốt" có lời ca tương ứng, có nội dung cụ thể. Hạt - khèn rất phong phú, học đến đâu biết đến đó. Người thổi khèn có tài, không chỉ ở chỗ thổi luyến láy, tô điểm nốt nhạc khèn cơ bản hay không, mà còn ở chỗ có biết thổi nhiều hạt - khèn hay không?

Khèn Mông giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tín ngưỡng của người Mông, thể hiện qua đám tang của họ. Khi trong làng có người qua đời, chủ nhà thường mời 2 hoặc 4 thầy khèn có uy tín, hiểu nhiều, biết rộng đến giúp. Thầy khèn đóng vai trò như thầy cúng và các nghi lễ đều được thực hành thông qua tiếng khèn.

Tùy vào thời điểm của đám tang mà thầy khèn thổi những bài khèn khác nhau như: các bài khèn chuẩn bị cho người chết về thế giới bên kia, bài chia buồn cùng gia chủ và gia chủ cảm ơn thầy khèn, bài để làm giỗ, làm ma khô cho người mất. Thầy khèn có thể thổi khèn theo giờ (giờ ăn cơm trưa và tối), liên tục từ hai đến bốn ngày. Một bài khèn kéo dài từ 15 - 30 phút. Những lúc nghỉ ngơi hay khi có người đến viếng, họ lại thổi một bài riêng cho phù hợp với hoàn cảnh. Khi thầy trống, thầy khèn múa thì người thân, người dự đám tang cũng nhảy múa theo, bởi người Mông quan niệm, nếu không có tiếng khèn thì linh hồn người chết sẽ không về được với tổ tiên. Những động tác múa của thầy khèn trong đám ma là vừa đi khom vừa thổi khèn, xoay vòng xung quanh quan tài, dùng khèn để lạy người chết.

Ngoài việc sử dụng khèn trong đám tang, người Mông còn thể hiện nghệ thuật khèn trong các lễ hội, sinh hoạt văn hóa văn nghệ. Các bài múa khèn bao giờ cũng có nội dung vui nhộn, mang ý nghĩa chúc tụng và mời bạn bè cùng tụ họp, vui chơi. Động tác múa khèn rất đa dạng, phong phú: múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ, vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo bốn hướng, mỗi bước tiến, bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia. Động tác cơ bản là khom lưng, quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc…, với tốc độ nhanh, điêu luyện. Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy, múa mãnh liệt, phóng khoáng và khó hơn, như lăn nghiêng, lăn ngửa, đá gà, đá ngựa, nhảy ngồi xổm, tay nọ vỗ vào chân kia, tay kia vỗ vào chân nọ, tiếng vỗ phải kêu, mà tiếng khèn vẫn không dứt. Mỗi bài khèn có một nội dung phù hợp với thơ, với chuyện kể dân gian: kể bước đường di cư của tổ tiên, nói lên cuộc đấu tranh lịch sử của các anh hùng dân tộc, hoặc ca ngợi cuộc sống tươi đẹp của người Mông.

Nghệ thuật Khèn trong tín ngưỡng của người Mông giúp con người giao tiếp với thần linh, với linh hồn của người chết, dẫn dắt linh hồn của người chết về với tổ tiên. Múa và thổi khèn trong đám ma vừa thể hiện tính nhân văn, vừa thể hiện tính nghệ thuật, không chỉ cho người Mông niềm tin vào cuộc sống mà còn thỏa mãn những nhu cầu tâm linh của họ. Nghệ thuật Khèn thể hiện bản sắc văn hóa riêng, độc đáo của cộng đồng người Mông, nhắc con cháu nhớ về cội nguồn. Nghệ thuật trình diễn khèn thể hiện sự đặc sắc giữa âm thanh của tiếng khèn và động tác múa nhuần nhuyễn; thể hiện tính cố kết cộng đồng, tinh thần đoàn kết trong đời sống cộng đồng.

Với giá trị tiêu biểu, Nghệ thuật Khèn của người Mông được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018.

 

Dương Anh (Theo Hồ sơ tư liệu, Cục Di sản văn hóa)


Sự kiện qua ảnh

59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59
59

Tìm kiếm

Liên kết website