Ngày 2 tháng 12 năm 2021
Liên kết website

Hò thuốc cá

Huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình có một bộ phận người Kinh với hơn 35 ngàn nhân khẩu, tự gọi mình là người Nguồn, có ngôn ngữ riêng, có sắc thái văn hóa độc đáo và văn nghệ dân gian khá phong phú như các thể loại dân ca: hò thuốc, hát đúm, ví, hát nhà trò, hát ru,…, trong đó, làn điệu Hò thuốc cá (hò thuốc) được xem là làn điệu dân ca đặc trưng của người Nguồn. Hò thuốc cá có liên quan mật thiết đến lao động sản xuất, mang đậm nét riêng, bắt nguồn từ nghề chế thuốc thả xuống khe, suối để bắt cá.

Vào mùa Đông và mùa Xuân, người Nguồn đi từng đoàn lên rừng bới rễ cây tèng (thuộc họ dây leo, rễ dạng củ, có chứa độc tố), về đập dập, trộn với đất ướt, lấy bùn trát kín, ủ lại, rồi chất củi đốt xung quanh. Sau đó, họ mang thuốc ra suối, khe, tìm chỗ có nhiều cá nhất, chọn một chỗ cao ở đầu suối, khe, lấy đá xếp vòng tròn để tạo thành một cái cối. Người dân (cả nam và nữ) cùng giã thuốc một lúc, cùng giơ lên, cùng hạ xuống, nên tùy vào số người giã thuốc mà xếp cối rộng, hẹp. Xếp cối xong, họ lấy rễ cây tèng đã được ủ chín bỏ vào cối, rồi chặt những cây rừng thẳng, dài khoảng 1,5m, to vừa tay cầm, vát nhọn một đầu để làm chày giã thuốc. Họ giã cho nước rễ cây tèng chảy ra, hòa vào dòng nước, làm cho cá bị mờ mắt mà chết, nổi lên mặt nước để họ có thể bắt cá dễ dàng. Ngoài loại rễ cây tèng, người ta cũng dùng rễ cây hôi hôi và lá cây cơn cơn (mọc bên suối) để làm thuốc đánh cá, hai loại cây này thường được sử dụng vào mùa hạ, mùa thu, được lấy về sử dụng ngay chứ không ủ chín như rễ cây tèng. Có một điều đặc biệt là các loại cây có độc tố này chỉ làm cho riêng một số loài cá bị say, bị chết, nhưng lại vô hại đối với người và các loài thủy sản khác (như cá lóc, cá chạch, lươn, ốc…). Khi cá bị bắt hết, độc tố của rễ cây cũng không còn ảnh hưởng đến dòng nước nữa!

Hò thuốc cá có nhịp điệu linh hoạt, khẩn trương theo nhịp chày giã thuốc, dễ hát, dễ thuộc, mang tính tập thể cao, không khí rộn ràng,… nên ai cũng có thể hò được. Chỉ cần có người xướng lên và có người cùng hòa nhịp để xô, là người ta lập tức bị cuốn vào một cách tự nhiên, không e dè, câu nệ, và cũng từ điệu hò ban đầu, với nội dung chính gắn với công việc giã thuốc cá, dần dần, người ta còn đưa vào nhiều nội dung khác, xuất hiện thêm những dị bản khác, đó là đối đáp giao duyên nam nữ rất tình tứ.

Trong Hò thuốc cá ở huyện Minh Hóa, cụm từ “hôi lên là hôi lên” xướng lên để tất cả cùng xô, nên có khi, người ta cũng gọi Hò thuốc cá là “Hò hôi lên” hay là “Hò thuốc” hoặc “Đi thuốc”.

Trong Hò thuốc cá, người ta quy ước rõ kiểu cách tham gia của từng thành viên. Bao giờ cũng có “hò cái” và “hò con”. Khi hò, hò cái là người “lĩnh xướng”, còn hò con là người “xố”. Mỗi câu hò thường thì chỉ có một người lĩnh xướng, còn người xố thì có thể một hoặc tất cả đám đông có mặt, người ta gọi là “hội xố”. Điều này thể hiện tính quần chúng của diễn xướng và thu hút đám đông rất mạnh mẽ, tạo nên hiệu ứng rộn ràng.

Cách hò nguyên sơ và đơn giản nhất trong Hò thuốc cá với kết cấu 6/8 là người hò cái hò hết câu 6, tất cả hò xố: "hôi lên là hôi lên", người hò cái tiếp tục hò hết câu 8, rồi tất cả hò xố: "hôi lên là hôi lên" để kết thúc một câu hò. Trong quá trình hát câu 6, câu 8, người ta có thể thêm những tiếng đệm, hư từ, luyến láy, kết hợp với tuyến giai điệu mềm mại, lượn sóng, hình thành một bài hát trọn vẹn. Câu xô vẫn giữ số từ đều đặn (5 từ), nhưng câu kể thì số từ có thay đổi (câu kể đầu chỉ có 9 từ, câu kể sau lên tới 12 từ), tuy vậy, vẫn không làm thay đổi hay xáo trộn tốc độ hay nhịp giã của chày.

Bài được hát ở điệu Sol Cung, tầm cữ của bài trong phạm vi quãng 6. Trên cơ sở lòng bản, tùy theo lời ca, hoặc tâm trạng của người hát, có thể có thêm những luyến láy, tô điểm,… phần nào làm cho cao độ của bài có sự thay đổi (tạo ra những dị bản) nhưng không đáng kể.

Hò thuốc cá từ lúc nguyên sơ có giai điệu khá đơn giản, ít luyến láy, nhưng tiết tấu rất khoẻ, dứt khoát. Một điểm độc đáo ở điệu hò là: tất cả mọi người cùng làm một động tác đưa chày lên và giã chày xuống rập ràng, cùng một thời điểm, đúng vào lúc hát ở phách mạnh trong ô nhịp 2/4 của bản nhạc (kể cả người hò cái và tập thể hò xố). Về phần lời ca, có nội dung phong phú như: cầu nguyện để thuốc được nhiều cá, bình yên trở về hoặc đối đáp nam nữ tỏ tình với nhau... Khi hò, người ta có thể tăng thêm từ trong câu lục bát theo hình thức nhắc lại hoặc thêm các từ đệm như: chừ, mà, rồi, ơ...

Trong một số trường hợp, người ta cũng có thể hò theo kiểu các kết cấu khác nữa, tuỳ thuộc vào bối cảnh, không gian diễn xướng và nội dung câu hò để ngắt nhịp, ngắt số từ trong câu hò cho thích hợp với người hò cái và người xố, như kết cấu 4/2 - 4/2/2, 4/2 - 6/2, 2/2/2 - 2/2/2/2,... Ví dụ, trong câu 6, người hò cái chỉ hò 4 từ đầu của câu, rồi ngắt để hò xố: "hôi lên là hôi lên" và sau đó hò tiếp 2 từ còn lại để hò xố: "hôi lên là hôi lên" rồi mới hò tiếp vào câu 8. Trong câu 8 cũng vậy, có khi người hò cái hò 4 từ một, cùng với từ đệm, tất cả hò xố: "hôi lên là hôi lên", hoặc hò 2 từ một, cùng với từ đệm để hò xố "hôi lên là hôi lên" kết thúc cho một câu hò (trường hợp này, trong câu 8 đã có đến 4 lượt xố con "hôi lên là hôi lên" mới kết thúc câu hò),...

Không giống với một số điệu hò lao động (ở trên cạn) khác ở khu vực Bình Trị Thiên, Hò thuốc cá có tiết tấu vừa phải, thậm chí còn thong thả nữa. Giai điệu của bài theo hình lượn sóng, mềm mại, ít có quãng nhảy xa, tạo cho Hò thuốc cá huyện Minh Hóa có sắc thái nhẹ nhàng, dung dị, nhưng không kém phần khỏe khoắn, rộn ràng, sinh động (điều này có thể là do câu xô có nốt Fa, với chức năng là âm tô điểm, và nốt Sol móc đơn liền kề nhau, ẩn chứa sự dứt khoát, vừa như thúc giục, thôi thúc, lại vừa dịu dàng, duyên dáng), làm cho tất cả những ai tham gia vừa giã chày, vừa hò mà không bị ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như công việc. Người ta có thể hò liên tục, không ngưng nghỉ với nhiều khổ thơ lục bát có những nội dung khác nhau, đến khi nào cá nổi lên, họ mới ngừng công việc đâm giã và hát hò để bắt cá.

Hò thuốc cá còn được sử dụng vào những công việc lao động tập thể nặng nhọc, như: đầm đất thuỷ lợi, giao thông, đầm nền nhà, sân phơi...

Ngày nay, Hò thuốc cá được diễn xướng trong các cuộc hội hè, đình đám như lễ hội (đặc biệt là trong lễ hội “Chợ Rằm tháng Ba”, lễ hội lớn nhất của huyện Minh Hóa), đám cưới và cả khi ru con,... Phần hò và xô vẫn được diễn xuất như khi hò trong lao động, chỉ khác động tác giã tèng được thay bằng nhịp vỗ tay của mọi người trong cuộc vui.

Do không gian để hát điệu hò thuốc dần dần được đưa về vùng dân cư, mang tính lễ nghi, trang nghiêm, khoan thai, nên âm nhạc của điệu hò thuốc cũng đã có những biến đổi nhỏ: hát chậm hơn, nhẹ nhàng hơn, luyến láy nhiều hơn, nên nghe uyển chuyển hơn và cùng một lúc ít người hát hơn so với những lúc lao động tập thể, như giã tèng bên suối hoặc đầm đất trên công trường thuỷ lợi, giao thông. Có lẽ vì vậy mà về tiết tấu, đặc biệt là phách mạnh, phách nhẹ cũng không phân biệt rõ ràng lắm. Nói đúng hơn là người hát có thể hát như nhịp 1/4, với tốc độ chậm, cường độ nhẹ nhàng, nghe có sức quyến rũ lòng người.

Hò thuốc cá phản ánh những tri thức dân gian cũng như đời sống tinh thần, được hình thành từ trong lao động sản xuất của người Nguồn ở huyện Minh Hóa; là sự phát triển, kế thừa và mang đậm nét văn hóa, lịch sử của vùng đất, con người Minh Hóa nói riêng và Quảng Bình nói chung. Hò thuốc cá phản ánh sinh động cuộc sống của người dân địa phương; diễn xướng và lời ca thể hiện tính chân, thiện, mỹ, tình yêu đất nước, đạo lý nhân nghĩa. Hò thuốc cá có giá trị về nghệ thuật và khoa học, mang tính ước lệ về giai điệu nên người hò có thể tự do sáng tạo trong lựa chọn ngôn ngữ; sử dụng nghệ thuật ẩn dụ, hoán dụ, nói lái, nhân hóa hay sử dụng nhuần nhuyễn nhiều thành ngữ, tục ngữ, từ địa phương, từ đồng âm dị nghĩa; sự kết hợp lời thơ với tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy đạt đến đỉnh cao.

Với giá trị tiêu biểu, Hò thuốc cá được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 607/QĐ-BVHTTDL ngày 03/02/2021./.

                             Dương Anh

(Theo Hồ sơ tư liệu, Cục Di sản văn hóa)

Liên kết website